ĐỒNG CHÍ ĐÀO TIẾN LỘC BẢN LĨNH KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
Đồng chí Đào Tiến Lộc, dân tộc Tày, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1920, người làng Thanh Bồng, xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn. Khoảng năm 1934 - 1935, khi đang là trẻ mồ côi cha, phải đi làm thuê. Một hôm nghe tin ở Gò Lim làng Bằng Là, cùng xã Đại Lịch có một lớp gia sư. Với cảm tính hiếu học, Đào Tiến Lộc tìm đến, may sao, ông Phạm Đình Tiến chủ gia sư nhận vào lớp. Lớp chỉ có ba trò: Hoàng Hữu Linh, Phạm Văn Bằng và Đào Tiến Lộc. Thầy giáo làng Nguyễn Đức Quỳ một ông đồ từ nơi xa tới. Thầy Quỳ hiền
Đào Tiến Lộc nhớ nhất là bài Tiếng chuông nhà trường:
Kính kính coong
Chuông coong kính gọi phường niên thiếu
Lũ thiếu niên nghe hiệu chuông này
Rủ nhau Nam Bắc Đông Tây
Hàng hàng lớp lớp dắt tay tựu trường
Nhà trường dạy tấm gương sử ký
Đã là người nguyên ủy phải hay
Bởi đâu có nước non này
Người Nam, phải biết các đời Việt Nam …
Nhưng chỉ năm sau, cuối 1935 thầy Quỳ chuyển đi nơi khác, Thầy Nguyễn Văn Kính về thay. Đào Tiến Lộc lên lớp hai (Pê ba ra toa), Tri phủ Văn Chấn công nhận sự ra đời của lớp học Gò lim và cử người về dự khai giảng. Lớp gia sư trở thành trường tư thục. Nhưng trường tư thục “Sơ học yếu lược Đại Lịch” chỉ có đến Êlê măng te (lớp 3 ngày nay), Hoàng Hữu Linh con trai Cháng tổng Hoàng Hữu Hổ. ra trường Động Lâm học tiếp, còn Đào Tiến Lộc về làm ruộng rồi đi phu. Một lần thấy viên phó lý ra lệnh đánh phu, Đào Tiến Lộc đứng bên bênh vực bị phó lý hống hách quất roi ngựa vào mặt mạnh tới mức để lại vết sẹo suốt đời. Chàng trai Đào Tiến Lộc nhận ra một điều: Ở làng quê, kẻ có quyền thế hách dịch, coi người đi phu chỉ là con trâu, con ngựa! Anh dằn vặt điều vô lý ấy suốt tuổi thiếu niên, để rồi đi đến việc đứng ra lập nhóm bạn hữu, có thêm anh em Hoàng Văn Chiểu, Hoàng Minh Lưu, tính chuyện vừa làm phu, nếu có lý dịch đến hành hung thì cả nhóm thanh niên tổ chức kêu gọi đấu tranh.
Đầu tháng 3/1945, có mấy người tù vượt Căng Nghĩa Lộ chạy qua Mỵ ra Đại Lịch, Đào Tiến Lộc vô tình nhận ra thầy Nguyễn Đức Quỳ. Thầy Quỳ cũng nhớ ngay cậu học trò mười năm trước. Nhận nhau, thầy Quỳ chỉ kịp dặn: “- Em giữ bí mật và đi làm cách mạng như thầy !”. Rồi nhóm người tù đi nhanh khỏi đám phu đường có tuần đinh, lý dịch cai quản. Gặp lại thầy Quỳ chưa đầy một phút, nhưng Đào Tiến Lộc hiểu ngay ông là người của tổ chức bí mật bị địch bắt, đang trốn tù để tiếp tục hoạt động, anh quyết định đứng hẳn về phía những người tù và làm những việc cần làm để bảo vệ họ thời gian sau. Đào Tiến Lộc mới biết trong nhóm trốn tù có cả Trần Quyết, thành viên lãnh đạo phá Căng Nghĩa Lộ.
Giữa tháng 3 năm đó (1945), một nhóm tù Sơn La đi qua Khe Dịa, Mỵ, ra Đại Lịch. Người trẻ trong nhóm hỏi Đào Tiến Lộc về điếm canh Thanh Bồng, Đào Tiến Lộc hăng hái nói với người đứng tuổi, điếm canh có lính dõng, họ sẽ hỏi giấy, nếu giấy không hợp lệ, sẽ bị lý trưởng bắt giữ. Thấy người trẻ thoáng chút băn khoăn, người đứng tuổi thì lặng im. Đào Tiến Lộc hăng hái: “- Để cháu đưa đi qua điếm”. Quả nhiên, lính dõng là người xóm dưới, cùng chạc tuổi nên mấy người tù đã được nhà tù Sơn La thả tự do nhưng vẫn bị theo dõi. Qua điếm canh một cách dễ dàng, người đứng tuổi đưa vào tay Đào Tiến Lộc mấy tờ giấy gấp bằng bàn tay, mặt bìa có chữ “Việt Minh”. Sau này Đào Tiến Lộc được thông tin, người đứng tuổi nhóm tù được thả là Lê Thanh Nghị Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ.
Cuối tháng 4 năm 1945 Đào Tiến Lộc nhận tin nhắn sẽ tiếp tục có đoàn tù Sơn La đi qua Đại Lịch. Đoàn cũng có giấy tờ “Được tha tù trước thời hạn”, nhưng đi đến đâu phải chịu sự giám sát của lý dịch địa phương. Đào Tiến Lộc bàn trong nhóm bạn hữu rồi cùng Hoàng Minh Lưu đưa về nhà mình. Đoàn tù chính trị có Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Duy Thân, Đào Gia Lựu, Lý Bạch Luân, Nguyễn Phi Bằng, Nguyễn Đăng Long, Trường Miên, Nguyễn Việt Bắc. Thấy ở nhà riêng gia đình dễ bị liên lụy, Nguyễn Đăng Long nhờ Đào Tiến Lộc tìm chỗ khác, thế là cả nhóm được đưa lên lán Gốc Hồng, cách nhà vài trăm mét. Đào Tiến Lộc và gia đình lo liệu cơm nước rất chu đáo. Đoàn tù được nghỉ ngơi cảm thấy khỏe lại sau những ngày bị giam cầm, tra tấn. Rồi Đào Tiến Lộc cùng Nguyễn Phi Bằng gặp ông Hoàng Văn Cừ người được chính quyền phong kiến Bắc Kỳ phong tước “Bá”. Ông Bá Cừ nhận lời, nếu lý dịch gây rắc rối, ông sẽ can thiệp. Trần Quốc Hoàn phân công Nguyễn Đăng Long, tranh thủ tiếp xúc với hào lý và thanh niên để xây dựng cơ sở Việt Minh ở Đại Lịch. Cũng từ đây các thanh niên nhiệt huyết Hoàng Minh Lưu, Phạm Quang Tích, Phạm Văn Bằng, Tạ Xuân Nghi, Hoàng Văn Vinh, Hoàng Văn Chiểu, Phạm Văn Thuận, lần đầu tiên được đọc các tài liệu tuyên truyền trong đó có cuốn sách “10 chính sách của Việt Minh - Việt Nam Độc lập” do Nguyễn Đăng Long giao lại cho Đào Tiến Lộc trước khi rời Đại Lịch ra Hiền Lương kết nối với Xứ ủy.
"Mười chính sách của Việt Minh" bắt đầu lan tỏa trong lớp thanh niên Đại Lịch rồi đến tầng lớp dân chúng khác. Cuối tháng 6 năm 1945 Đào Tiến Lộc được Trần Quyết gọi ra Nang Sa, tại đây, ông gặp Ngô Minh Loan, Bình Phương, Trần Đức Sắc, Đào Đình Bảng, gặp các hào lý yêu nước đã đứng hẳn về phía Việt Minh như Đặng Bá Lâu, Trần Đình Khánh. Ngô Minh Loan giao cho Nguyễn Đăng Long người Nghĩa Lộ và Đào Tiến Lộc trở về Văn Chấn khẩn trương phát triển tổ chức Việt Minh ở thị trấn Nghĩa Lộ và vùng ngoài Đại Lịch Chấn Thịnh, Cát Thịnh, Thượng Bằng La, chờ thời cơ tổng khởi nghĩa khi có lệnh của Ủy ban quân sự Cách mạng. Đầu tháng 7 năm 1945, Ủy ban quân sự Cách mạng chuyển về làng Vần, đặt Sở chỉ huy tại nhà ông Chánh tổng Lương Ca Trần Đình Khánh, Đào Tiến Lộc có điều kiện trực tiếp tiếp nhận chủ trương của Ban cán sự Đảng Phú Yên, và Ủy ban quân sự, ông đã nhanh chóng đứng ra lập Hội Việt Minh Đại Lịch do chính ông làm Chủ nhiệm, để rồi ngày 2 tháng 8 năm 1945 lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên sân Trường sơ học yếu lược Thanh Bồng, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời Tạ Xuân Nghi tuyên bố chính quyền đã về tay nhân dân. Đại Lịch xã đầu tiên của huyện Văn Chấn giành Độc lập, đang ráo riết chuẩn bị lực lượng đón và nhập với đoàn quân Giải phóng vào giải phóng Miền Tây.
Với xã Đại Lịch, và huyện Văn Chấn, Đồng chí Đào Tấn Lộc có vai trò quan trọng trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.
Tháng 4 năm 2012, chúng tôi (Hà Lâm Kỳ và Hà Đình Nghĩa) được tháp tùng ông Hà Thiết Hùng nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn, phái viên của thường trực Huyện ủy với Tỉnh ủy Yên Bái cuối tháng 10 năm 1947, về thăm xã Đại Lịch. Dừng chân trước gò đồi Đồng Lở - Phắc Nam thuộc làng Khe Liền, ông nói với lãnh đạo địa phương: “- Lúc bấy giờ (1947 - 1948), nếu Đại Lịch bị mất vào tay giặc Pháp thì tình hình sẽ rất khó khăn !”. Cứu vãn biến cố ở thời điểm “ngàn cân treo sợi tóc” ấy của Văn Chấn, trước hết phải nói đến sự quyết đoán và quyết định sáng suốt của Thường trực Tỉnh ủy, mà ở Đại Lịch là Bí thư chi bộ Đào Tiến Lộc.
Phái viên Hà Thiết Hùng (tức Hà Đình Hưng) được Thường trực Tỉnh ủy kiêm Trưởng ty Liêm phóng Phạm Văn Toán (tức Phạm Ngọc Khôi - Phan Đạo Xích) giao nhiệm vụ gấp rút trở về báo cáo tình hình với Huyện ủy (lúc này Văn Chấn gần như đã bị Pháp khống chế và lập xong các đồn trọng điểm). Trên đường về đến Hưng Khánh, Hà Thiết Hùng bị dõng binh phát hiện đuổi bắt, ông chạy lên rừng rồi vượt núi Đảy (còn gọi là núi Đáy) xuống Đại Lịch, vào đình Khe Liền thì vô tình gặp thổ đạo Hà Văn Đê và Chủ tịch Ủy ban hành chính Tạ Xuân Nghi. Dù chưa hiểu rõ về nhau nhưng qua câu chuyện bắt mối, Tạ Xuân Nghi bố trí cho Hà Thiết Hùng gặp Đào Tiến Lộc. Và thế là ý tưởng chọn Đại Lịch làm địa bàn hoạt động bí mật của cơ quan huyện Văn Chấn ngay trong vùng địch tạm chiếm được hình thành. Ý tưởng ấy nhanh chóng được Nguyễn Giang (tức Quản Văn Tình) thường trực Huyện ủy chấp nhận.
Đào Tiến Lộc xác định chi bộ có vai trò đặc biệt ở địa phương mà Bí thư phải là người chịu trách nhiệm cao nhất. Ông đưa ra ý kiến khẩn trương thành lập các đội du kích đoàn thể hỗ trợ Đội du kích võ trang và các tổ chức quần chúng kháng chiến. Đồng chí Nguyễn Tấn Phúc Bí thư Tỉnh ủy về Đại Lịch (cuối tháng 10 năm 1947) kiểm tra, đánh giá tình hình, xem đây là mô hình chiến tranh nhân dân giữa vùng hậu địch, cần nhanh chóng nhân rộng. Có thể nói ý chí ấy có từ một chi bộ do Đào Tiến Lộc đứng đầu, lan tỏa rất nhanh trong nhân dân, tạo nên hiệu ứng “làng rào tre, cắm chông, báo động” đánh giặc. Và rồi trận đèo Din ngày 20 tháng 11 năm 1947, ta tiêu diệt 6 tên địch trong đó có Trung úy Pháp chỉ huy. Hành động nhảy xuống đường cướp súng trên tay tên Pháp bị thương của chiến sĩ du kích thiếu niên Hoàng Văn Thọ chắc chắn chỉ là hành động cảm tính của lứa tuổi. Sự hi sinh của Hoàng Văn Thọ - người được Đào Tiến Lộc đưa vào tổ chức, cũng có phần tất yếu. Song, đằng sau đấy lại là cả một vấn đề cần được lý giải thấu đáo và công bằng, ấy là cái chết trong chiến tranh đã tạo nên một phong trào "Cướp súng giặc đánh giặc" chưa có tiền lệ; cái chết oanh liệt ở tuổi thiếu niên đã đánh thức toàn dân ý chí hành động đáp lại Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch: “Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái... Ai có súng, dùng súng. Ai có gươm, dùng gươm. Ai không có súng, gươm, thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức đánh giặc cứu nước!”. Đại Lịch từ tháng 10 năm 1947 đứng đầu là đồng chí Đào Tiến Lộc, đã huy động được toàn dân đánh giặc, toàn dân trường kỳ kháng chiến một cách tự nguyện, và tự tin ngày thắng lợi.
Mặc dù đồn Pháp vây bốn phía, lại thêm hàng chục trận càn trong năm, gần như ngày nào cũng có du kích hoặc người dân thương vong, ngã xuống. Song Đại Lịch vẫn đứng vững, trận đánh đèo Din và trận đánh Lũng Bũm (có sự phối hợp với bộ đội chủ lực của Kim Tiến và Trung đội 86 bộ đội địa phương của Hà Thiết Hùng) được xem như đã chọc thủng thế bao vây của quân Pháp, kìm được chân địch, tạo điều kiện về thời gian để tỉnh điều chuyển lực lượng và các địa phương trong huyện nhanh chóng phát triển du kích võ trang tại chỗ - chủ trương và mục tiêu đó của Tỉnh ủy và Huyện ủy đã thành công bước đầu, được bắt đầu từ Đại Lịch.
Đại Lịch, sau cách mạng tháng Tám, giặc đói, giặc dốt đang dần được đẩy lùi thì lại bùng lên sự tái chiếm và khủng bố của giặc Pháp. Những ổn định tạm thời bị đảo ngược hoàn toàn. Một số hào lý, lí dịch xã hội cũ phân tâm, có người bộc lộ sự thỏa hiệp, không dám vào cuộc cùng nhân dân kháng chiến lâu dài. Trong bối cảnh xã hội và bối cảnh quan hệ làng quê họ mạc ấy, Bí thư chi bộ Đào Tiến Lộc cùng các đồng chí của mình thể hiện rất rõ phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” ở cơ sở: có mềm dẻo, có cứng rắn, có thuyết phục, và có cả trừng trị, nên được các tổ chức đoàn thể và người dân đồng lòng, được nhiều hào lý và dõng binh cũ đồng tình, nghe theo. Chi bộ, xã bộ Việt Minh, Ủy ban kháng chiến, Mặt trận Liên Việt và du kích Đại Lịch thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc cho cơ quan huyện Văn Chấn tại Mật khu Nguyễn Huệ.
Chủ trương của Tỉnh ủy lúc này (1948), Huyện bộ Việt Minh (do Đào Tiến Lộc làm chủ nhiệm) và xã bộ Việt Minh (do Phạm Quang Tích làm chủ nhiệm) ra hoạt động công khai để thu phục các hào lý và sẵn sàng ứng phó với mọi ý đồ của Pháp. Nhờ vậy chính sách của Việt Minh nhanh chóng đến với mọi người dân, nhiều hào lý, dõng binh ngả hẳn theo Việt Minh, tích cực tham gia kháng chiến hoặc giữ thái độ im lặng và bất hợp tác với địch. Với tư cách Huyện ủy viên (tháng 12 năm 1948) phụ trách công tác dân vận, Chủ nhiệm Huyện bộ Việt Minh kiêm Chính trị viên Đại đội 86, đồng chí Đào Tiến Lộc đã khéo léo đưa được công tác Đảng vào “sân” vận động quần chúng, “sân” hoạt động của Mặt trận Liên Việt toàn huyện, và chuyển tải chủ trương Huyện ủy đến lực lượng vũ trang địa phương. Nhà văn Hà Lâm Kỳ kể lại: Tháng 1 năm 2020, tôi được đi cùng các vị: Thiếu tướng Lý A Sáng, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu II, Đại tá Nguyễn Trung Thái Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh, đến thăm ông Hà Thiết Hùng, Nguyên Đại đội trưởng Đại đội 86 (1948 - 1950) , nhân thể, tôi có hỏi ông Hà Thiết Hùng về chuyện này, vị cựu Đại đội trưởng Đại đội 86 trả lời: “-Tôi làm Đại đội trưởng, anh Dũng Tiến (tức Đào Tiến Lộc) làm chính trị viên kiêm nhiệm, tuy không trực tiếp chỉ huy nhưng công tác tư tưởng và sự chỉ đạo của Huyện ủy đến với lực lượng vũ trang huyện rất kịp thời”. Sự kết hợp hiệu quả vai trò lãnh đạo "ba trong một" (Dân vận - Việt Minh - Quân sự) trong cùng một con người Đào Tiến Lộc ở huyện miền núi, nhiều dân tộc những năm đầu kháng chiến, quả là bài học kinh nghiệm quý, cho cả ngày nay. Tất nhiên, ngày ấy, kẻ thù biết rõ điều đó. Đồn trưởng đồn Đồng Bồ - Trung úy Zia dơ vừa về thay Va-Ri-ê đã ra lệnh treo thưởng 120 đồng bạc trắng, ba yến muối, và một tạ thóc cho ai hạ sát được Bí thư Huyện ủy Nguyễn Duy Sinh hoặc Chủ nhiệm Huyện bộ Việt Minh Đào Tiến Lộc. Đầu tháng 3 năm 1950 Đào Tiến Lộc đưa tổ Quân báo bộ đội chủ lực về Khe Liền tăng cường cho Đại đội 86, chuẩn bị chống quân Pháp càn vào khu Nguyễn Huệ. Có kẻ khai báo, Pháp cho lính phục kích tại Khe Bưởi. Đào Tiến Lộc bị thương, một du kích hy sinh. Trận càn của Pháp đánh úp lán Đồng Lở nơi ở của Huyện bộ Việt Minh, và lán Phắc Nam nơi đóng trụ sở của Huyện đội ngay sau đó, vẫn cứ diễn ra, nhưng quân Pháp chỉ gặp vườn không nhà trống. Đào Tiến Lộc và các lãnh đạo chủ chốt của Huyện, của xã trở thành mục tiêu săn bắt của Đồn trưởng đồn Đồng Bồ. Tháng 8 năm 1950 Tỉnh ủy Yên Bái điều động Đào Tiến Lộc về làm công tác Đảng Đoàn tại Mặt trận Liên Việt tỉnh, sau đó là thường trực Huyện ủy Trấn Yên.
Trong đời hoạt động cách mạng của Đào Tiến Lộc, có lẽ những năm tháng nhận đường đến với cách mạng và khi là chủ nhân “Khu Nguyễn Huệ” (Bí danh của xã Đại Lịch từ tháng 10/1947 đến cuối 1952) là khoảng thời gian cam go và cũng sôi nổi nhất. Bởi lẽ những tháng năm này ông được giao giữ các cương vị nhỏ mà trọng trách lớn: 25 tuổi (1945) khâu nối an toàn nhiều lần đường dây bí mật giữa các tù chính trị Sơn La với tổ chức Xứ ủy Bắc Kỳ. Đồng thời tiếp nhận từ Ủy ban quân sự cách mạng tại chiến khu Vần kế hoạch tổ chức giành chính quyền và lập chính quyền nhân dân ở xã Đại Lịch. 27 tuổi, Bí thư chi bộ đầu tiên kiêm chính trị viên đội du kích võ trang. 28 tuổi, Chủ nhiệm Huyện bộ Việt Minh, Huyện ủy viên dự khuyết phụ trách công tác dân vận kiêm Chính trị viên Đại đội 86. 30 tuổi, Thường vụ thường trực Huyện ủy Trấn Yên, và các hoạt động những năm sau đó.
Thành công khi giữ cương vị Bí thư chi bộ và chủ nhiệm Huyện bộ Việt Minh là, Đào Tiến Lộc đã tập hợp được quanh mình những nông dân cùng trang lứa, trở thành cán bộ cốt cán đầy bản lĩnh ở địa phương: Phạm Quang Tích, Hoàng Minh Lưu, Phạm Văn Bằng, Tạ Xuân Nghi, Phạm Văn Thuận, Hoàng Văn Vinh, Hoàng Văn Quang, Hoàng Văn Biểu, Hà Văn Tuất, Phạm Ngọc Quỳnh, Hoàng Hữu Linh, Hà Văn Cận, Hà Văn Đê, Hà Văn Nhàn...Các vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà đến nay dù đã khuất bóng nhưng nhân dân Đại Lịch vẫn luôn nhắc tên tuổi và kính trọng họ. Và lớp cộng sự ở tuổi đàn em còn đây: Hoàng Văn Tỵ, Hoàng Văn Thuận, Hà Văn Tích, Hoàng Văn Chung, Hoàng Hữu Uyển… hôm nay, như đang cùng nhau hồi tưởng về năm tháng cùng người anh, bất chấp hiểm nguy, một lòng lo toàn dân kháng chiến. Những bài học về cách mạng và chiến tranh du kích mà cựu tù Sơn La Nguyễn Đăng Long hay phái viên tỉnh ủy Nguyễn Duy Sinh chỉ dẫn, chỉ là định hướng có tính lý thuyết. Đào Tiến Lộc cùng tập thể cộng sự vận dụng nó vào thực tế địa phương miền núi nơi hậu địch và đã tạo ra thành quả bước ngoặt. Năm 2018, bà Hà Thị Thuần, người làng Thanh Tú, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng nói với chúng tôi: - “Phải như thế nào, chỉ trong khoảng hơn một năm 1947 – 1948, Đại Lịch mới có thể kết nạp được hai mươi mấy đảng viên, mà đến hôm nay, người hy sinh, người qua đời, người còn sống, họ vẫn là đảng viên”. Chúng tôi tạm hiểu, đó là nhờ nhân dân, nhờ cấp ủy cấp trên, nhờ các đoàn thể quần chúng, và nhất là nhờ bản lĩnh của người Bí thư chi bộ - đồng chí Đào Tiến Lộc, mà các đảng viên thời kháng chiến ấy làm nên một sự nghiệp.
Những năm “Khu Nguyễn Huệ”, nhiều lần các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy: Nguyễn Chấn, Nguyễn Tấn Phúc, Vũ Tuân... đã về làm việc với cơ quan huyện. Có cả hội nghị phát động chiến tranh du kích (tháng 10 năm 1947) do Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Tấn Phúc chủ trì (Sách: Lịch sử công an nhân dân tỉnh Yên Bái 1945 -1995. Công an tỉnh Yên Bái xuất bản 1995. Trang 44 đã dẫn). Tất cả khó lọt qua tai mắt mật thám, hào lý đối lập, mà vẫn an toàn tuyệt đối. Đã hàng chục trận càn, hàng trăm nhà dân, đình làng và lán sơ tán bị đốt cháy, mấy mươi du kích và dân lành bị bắn chết. Vậy mà Đại Lịch vẫn kiên định, không chùn bước. Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Chấn tập 1 xuất bản tháng 8/2010, trang 31 viết: “Huyện có hai Chi bộ được vinh danh “Chi bộ đỏ” là Đại Lịch và Thượng Bằng La, hai đồng chí Bí thư của các chi bộ này là Đào Tiến Lộc và Hoàng Đình Lự được cử đi dự Đại hội Đảng liên khu X và ngồi trên ghế Đoàn Chủ tịch”. Đại Lịch và Thượng Bằng La đều đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ chống Pháp. Đó là những vinh dự lớn những năm tháng "Toàn quốc kháng chiến". Vinh dự ấy trước hết thuộc về nhân dân các dân tộc, thuộc về các anh hùng liệt sĩ, các đảng viên trung kiên trong đó có đồng chí Đào Tiến Lộc. Vinh dự có được, cũng nhờ sự chỉ đạo của các cấp ủy kháng chiến ở thời kỳ này mà hôm nay không thể không nhắc tới các vị: Phan Đạo Xích (Phạm Văn Toán), Nguyễn Duy Sinh (Xinh Xồn), Nguyễn Văn Doãn (Doãn Kim), Nguyễn Giang (Quản Văn Tình), Nguyễn Bá Lạc (Trần Quốc Mạnh). Cụ Các Mác nói: “Con người là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”. Có lẽ vậy mà các yếu tố xuất hiện trong cách mạng và kháng chiến, đã hội tụ, để rồi có được một Đào Tiến Lộc, đưa ông trở thành người Đảng viên chân chính, người con tiêu biểu nhất trong số những người con tiêu biểu của nhân dân các dân tộc Đại Lịch.



