Bài viết

ĐỒNG CHÍ ĐÀO XUÂN THÁI

Đại úy Đào Xuân Thái sinh ngày 21/3/1929 tại xã Bình Phượng, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (nay là thôn 8, phường Hợp Minh, thành phố Yên Bái). Cụ thân sinh vốn quê ở Hà Nam, nhưng gia đình lại sống ở Thái Bình là chính, năm 24 tuổi lên tỉnh Yên Bái mưu sinh, lấy vợ, sinh được 10 người con, Đào Xuân Thái là đứa con thứ 7, sau mất 4, chỉ còn 6 người con. Vì cha có nghề làm lò gạch nên cuộc sống gia đình một thời có của ăn của để. Năm 1943 trận lũ lụt lớn làm mất hết tài sản, lò gạch, đẩy gia đình

Lào Cai15/01/2026Hoàng Việt Quân (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đến vụ làm ngô ở Phú Nhuận, gia đình vào ở nhà ông Quản Nhượng, ngày đi làm, tối đến cậu bé Đào Xuân Thái thường đi trông coi nương ngô. Ngày ấy có tên Trương Dậu vốn là tướng cướp ở làng Cẩm Khê (Phú Thọ) sau khi ra tù, tìm lên xã Nụ Điền cũng làm ngô, tối đến chuyên đi ăn cắp chó, gà. Một hôm do đi làm ruộng về muộn, khi lên trông nương ngô thì trời đã tối, cậu bé Đào Xuân Thái tình cờ bắt gặp tên Trương Dậu vào ăn trộm ngô, bèn dùng roi tre gai xông vào đánh, hô hoán ầm lên. Tên Trương dậu vứt sọt ngô lại, bỏ chạy. Đếm trong sọt ngô thấy hắn lấy 24 bắp, cậu bé vẫn lên trình báo với quan trên, nhưng không thấy ai giải quyết. Cậu bé không chịu yên, lại lên trình báo với Chánh tổng, buộc quản tuần phải đứng ra giải quyết, bắt tên Trương Dậu đền bù. Lại một hôm khác, cũng từ nương ngô ấy về, cậu bé bắt gặp một con beo bắt lợn ở Đồng Đình, chạy qua cánh đồng, bơi qua Ngòi Lâu, leo lên tả ly khoảng 10 mét, đến cánh đồng vừa lúc gặp cậu bé. Cậu bé Thái vốn đã có kinh nghiệm, bèn cầm một đoạn nứa đập đập xuống đất. Con beo sợ hãi, bỏ lại con lợn, chạy mất, cậu bé chỉ việc đem lợn về giả cho dân. Cậu bé Đào Xuân Thái nhờ hai việc ấy mà trở nên nổi tiếng.

Vào thời gian đó, cha mẹ và anh em lại xum họp. Có một ông cán bộ đóng vai thầy bói tên là Hà Ngọc Dậu (không rõ tên thật là gì) đang trên đường đi tìm người giúp việc, qua lại gia đình vài bận chuyện trò, uống rượu thân tình với chacậu bé, vì cùng dân Thái Bình với nhau. Ông Dậu nhờ giới thiệu cho người đi theo giúp việc. Người cha giới thiệu con trai lớn Đào Văn An, nhưng ông Dậu bảo lớn tuổi quá. Người cha giới thiệu tiếp cậu con trai nhỏ Đào Xuân Thái và nói “Thằng này nó ngổ ngáo, bất cần” rồi kể nhiều chuyện về Thái hồi nhỏ. Không ngờ ông Dậu chấp nhận, lúc đó là vào dịp cuối năm 1943. Thế là cậu bé Đào Xuân Thái ở tuổi 14, sắp bước vào tuổi 15 bắt đầu đi theo ông Dậu phục vụ ông đoán tướng số ở khắp các tỉnh Thái Bình, Hải Hưng, Bắc Giang... Thực ra là ông bí mật đi nắm tình hình cơ sở cách mạng và mãi sau này cậu bé mới biết. Vào nhà thờ Thạch Đê thấy ông có nhiều tiền lắm. Lên Yên Bái, ông đi các nơi Chấn Thịnh, Thanh Bồng, My, Ca Vịnh, Văn An, Nghĩa Lộ... Cậu láng máng biết ông làm việc gì đó quan trọng lắm, cần phục vụ, giúp việc chu đáo, không được lộ, mà còn phải bảo vệ ông. Có lần ở bến đò Phủ Lỗ, phát hiện bọn mật thám trà trộn trong đám đông bám theo ông, sẵn nhặt được một gót giày đinh, cậu bé đặt xuống đất rồi dẫm chân lên, kêu đau ầm ĩ, mọi người xúm đông lại xem, nhờ đó ông Dậu trốn thoát. Lại một lần khác, phải qua trạm gác của giặc ở Chủ Chè, thấy gần đấy có 3 con trâu ai đó buộc bên đường, cậu bé nhanh trí đến tháo dây, vụt đuổi 3 con trâu, mồm quát tháo: “Chúng mày đi xa thế, để tạo tìm mãi”, cứ vậy đánh trâu đi qua bọn giặc, ông Dậu đi cùng cũng thoát thân, không bị tra hỏi, vì chúng tưởng người nhà cùng đi tìm trâu. Ngày cuối cùng về xuôi, đến cầu Thiến (Trấn Yên) ông bảo ngồi nghỉ dưới bóng cây. Ông giở sách bói ra xem, nói chuyện nhiều lắm, nhưng cậu bé Thái chỉ nhớ đại ý: Vua nước Nam là Nhà Nguyễn, sách nói: “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về”, “Thằng Nhật sẽ hất cổ thằng pháp, nhân dân sẽ bị một cổ hai tròng”, “Thằng Tây nó tếch, thằng Tàu nó sang”v.v... Ông giải thích về Đảng cộng sản, về nhà tù Sơn La, nhà tù Nghĩa Lộ có những người tù cộng sản bị bắt. Ông vẽ lá cờ Đảng bằng một cái que dưới đất cho cậu bé xem. Cậu bé Đào Xuân Thái nghe, nhìn nhưng lỗ mỗ chưa hiểu, chưa để tâm lắm.

Sau hôm đó, ông Dậu đưa Đào Xuân Thái đi gặp ông Nguyễn Hữu Minh (tức Minh Đăng) ở thị xã Yên Bái, bảo: “Tôi có đứa cháu, bấy lâu nó đã đi theo tôi, ông xem thế nào, cho nó được học chữ ở bên này”. Rồi ông Dậu cùng cha cậu bé về xuôi, đến Thái Bình cả hai người mắc bệnh (không rõ bệnh gì) vào đến bệnh viện không cứu được, cả hai người đều chết.

Đào Xuân Thái về nhà bên Hợp Minh, ngày giúp mẹ kiếm sống, tối sang thị xã học chữ quốc ngữ ở trường con gái do ông Minh Đăng dạy. Ông Minh Đăng bảo: “Về cũng được, nhưng sợ qua sông đò vất vả thì ở lại, ngủ tại nhà anhLê Khoa” (trước cửa trường con gái, tức nhà ông Đội Xuân). Thái đã học lớp 2 nên học lại từ đầu cậu thấy chán. Ông Minh Đăng khuyên: “Em cứ sang học, tôi sẽ giao anh Lê Khoa dạy cho từ lớp 2 lên lớp 3”. Ông bảo nên rủ thêm một bạn cùng làng sang học. Nghe ông, Thái rủ Nguyễn Văn Tiêu đi. Tiêu đã học hết lớp 3, đọc làu tiếng Pháp, nể bạn sang học, chỉ được hai tối thì bỏ. Rồi cậu bé Thái và Tiêu nhận được tấm các do Đốc học Thụ ký cho chuyển sang học lớp xóa mù của tổ chức truyền bá quốc ngữ để dễ dàng đi vào thị xã, vẫn ở trường con gái, vẫn thầy Minh Đăng dạy. Không chỉ dạy chữ, thầy còn dạy sử, kể chuyện yêu nước, cách mạng. Đi học về, hàng ngày làm việc phụ giúp mẹ kiếm ống, có hôm vừa đi lấy củi bán vừa giúp thầy Minh Đăng mang thư đưa đến các nơi, lúc đưa đến nhà ông Toàn ở Bảo Long, lúc qua nhà Lý Tốn đưa tới nhà ông Xuân Đỉnh ở Tiểu Phạm (Hiền Lương) hoặc đưa thư cho ông Tấn ở tận Đồng Phú. Cậu bé Thái giúp thầy, chỉ biết vô tư đưa thư đến nơi đến chốn, đâu biết những nơi đó là cơ sở cách mạng. Được vài chuyến, thầy Minh Đăng tin tưởng, tuyên truyền về Việt Minh, kết nạp Đào Xuân Thái vào Mặt trận Việt Minh. Khi tuyên bố kết nạp, thấy trong 6 lời thề của người cán bộ Việt Minhcâu “Địch bắt được không khai, địch tra tấn không được phản bội”, Thái sợ quá, sau hai ngày xin thôi. Thầy Minh Đăng bèn rủ cậu học trò đi chơi, tỉ tê trò chuyện, gợi lại những việc ngày trước đánh bắt tên Trương Dậu, kiện lên quan, dọa con báo đem lợn về trả dân, rồi hai lần cứu ông Hà Ngọc Dậu, gần đây nhất là đưa thư cho các cơ sở cách mạng, thầy bảo: “Những việc em làm đều dũng cảm cả, mà đã dũng cảm rồi thì em sợ gì các việc như thế này?”. Nghe lời thầy, Thái lại tiếp tục tham gia Việt Minh, làm những nhiệm vụ được giao. Từ đó, Thái giác ngộ cách mạng, chính thức làm liên lạc cho ông Minh Đăng, đưa thư từ, tài liệu giữa thị xã Yên Bái và các cơ sở bên sông chuyển tới chiến khu Vần - Hiền Lương, hoặc ngược lại.

Sau hội nghị quân sự Bắc Kỳ (15 - 20/4/1945) Xứ ủy Bắc Kỳ đã cử đồng chí Ngô Minh Loan lên phụ trách khu căn cứ cách mạng Vần - Hiền Lương Cũng từ đó, Đào Xuân Thái tham gia Đội du kích Âu Cơ và Cứu quốc quân (Chi đội Trần Quốc Toản) trực tiếp làm liên lạc cho ông Ngô Minh Loan. 2. Nghe nói trước đây ở tỉnh Yên Bái có Đội cận vệ, thực hư thế nào không rõ, tôi tìm đến nhà ông Đào Xuân Thái, nguyên Đại ủy, Thị đội trưởng thị xã Yên Bái, đã từng làm liên lạc cho ông Minh Đăng và Ngô Minh Loan, là chiến sĩ Đội du kích Âu Cơ và Cứu quốc quân thời kỳ vận động, khởi nghĩa Cách mạng tháng 8/1945 và đánh đuổi bọn Việt Nam Quốc dân Đảng phản động để hỏi: Liệu có Đội cận vệ thật không, hay đó chỉ đơn thuần là những cán bộ bảo vệ, hoặc cảnh vệ? Liệu có sự nhầm lẫn về tên gọi không? Nếu có, thì Đội cận vệ làm nhiệm vụ gì? Ông Đào Xuân Thái khẳng định:

- Có Đội cận vệ! Đội cận vệ thời ấy do đích thân tôi là Đội trưởng. Rồi ông kể, bắt đầu từ những người tiền thân:

- Tiền thân của Đội là từ các chiến sĩ liên lạc, trinh sát của Cứu quốc quân hồi tháng 7/1945 do ông Ngô Minh Loan lập ra, đầu tiên có ba người: tôi, anh Nguyễn Văn Vạn, anh Bái. Đầu tháng 8/1945, ta tổ chức cho ông Nguyễn Phúc vượt nhà giam Yên Bái sang Chiến khu Vần hoạt động, ông tham gia Ủy ban khởi nghĩa. Ông Nguyễn Phúc lấy tôi và anh Vạn sang Tỉnh bộ Việt Minh làm cận vệ, còn anh Bái đi nhận nhiệm vụ khác. Nhiệm vụ của chúng tôi lúc đầu chỉ là phục vụ, bảo vệ, làm liên lạc, chăm lo đời sống cho cán bộ lãnh đạo chiến khu, chủ yếu là các ông Ngô Minh Loan, Bình Phương, Nguyễn Phúc. Các ông đi đến đâu thì mình có nhiệm vụ đi báo trước cho cơ sở. Ngoài con đường chính dân đi, chúng tôi có đường rừng bí mật của Việt Minh như đường Đười Ươi gần 10 cây số từ Vân Hội đến Yên Bái, đường Khe Củm (tên gọi Con Báo, tức đường Tự Đoan gần 6 cây số). Gọi Đười Ươi, Khe Củm để người ta sợ, không dám vào các khu rừng có đường đi bí mật. Khi có động hoặc có việc khẩn cấp thì đi đường bí mật. Nếu lạc rừng, thường liên lạc với nhau bằng tiếng hoẵng kêu, nếu lạc nơi đồng bằng, bãi sông thì liên lạc bằng tiếng cuốc, tiếng bìm bịp kêu. Tôi thường tìm chọn nứa, lấy một đoạn nhỏ khoảng 10 phân, kẹp hai cái lá vào là có thể thổi như tiếng con hoẵng kêu, lại có đoạn nứa nhỏ khác dùng hơi và tay bịt thổi như tiếng con cuốc, con bìm bịp kêu. Quen đến nỗi, nay tôi vẫn làm được, thổi được. Ở Tiểu Phạm còn có ông Xuân Đỉnh làm liên lạc cho ông Thuận, sau sang quân đội công tác. Chúng tôi còn có nhiệm vụ làm nghi binh nữa, lúc cần phải đánh lạc hướng địch và bọn mật thám. Tôi phải tập đóng giả ông Ngô Minh Loan, anh Nguyễn Văn Vạn đóng giả ông Nguyễn Phúc. Hàng ngày hai người tranh thủ luyện tập đi đứng, nói năng, ăn mặc, tác phong, cử chỉ sao cho giống các ông. Ông Ngô Minh Loan cho tôi một bộ com lê màu hơi vàng, có kẻ ô vuông màu trắng của ông để mặc, tôi đóng vai ông lưng hơi gù, đi thong thả như người lúc nào cũng nhàn hạ, thư giãn, cánh tay đu đưa nhẹ nhàng, lòng bàn tay thường hơi ngửa về phía sau. Tôi trẻ, chịu khó quan sát nên bắt chước ông dễ lắm. Còn anh Nguyễn Văn Vạn phải luyện sao cho giống ôngNguyễn Phúc: đi thẳng lưng, chân bước thoăn thoắt, đeo kính cận, đầu động đậy do hay nhìn trái nhìn phải, có nét sắc sảo.

Nghe ông Thái kể chuyện, tôi hiểu ra rằng những ngày chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa hết sức khẩn trương, bận rộn. Ông Thái và ông Vạn không những phải làm tốt nhiệm vụ bảo vệ, phục vụ các đồng chí lãnh đạo, khi cần còn phải trực tiếp tham gia chiến đấu cùng các đơn vị đi giải phóng các nơi. Sau khi giải phóng Nghĩa Lộ, ông Đào Xuân Thái theo Phân đội I (Đại đội 1) do đồng chí Nguyễn Đăng Cự chỉ huy tiến sang đồn Văn An tước khi giới 8 lính dòng, rồi chia làm hai bộ phận, một bộ phận tiến về Ca Vịnh, ông theo bộ phận đồng chí Cự về Lương Tâm, rồi cùng các đơn vị tập trung xuống Âu Lâu chờ lệnh khởi nghĩa. Đêm 16 rạng sáng 17/8/1945 ông cùng các đơn vị vượt sông Hồng tiến vào thị xã tham gia chiến đấu, buộc bọn Nhật phải đầu hàng, ta tiếp quản toàn bộ thị xã Yên Bái sáng ngày 20/8/1945. Ngày 22/8/1945 Ban cán sự Đảng tổ chức cuộc mít tỉnh ở vườn hoa tỉnh lỵ, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, ra mắt Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời, do đồng chí Ngô Minh Loan làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Phúc làm Phó chủ tịch, góp phần làm nên Cách mạng tháng 8/1945 thành công trong cả nước.

Trong “Giấy chứng nhận” cho ông Đào Xuân Thái do đồng chí Ngô Minh Loan viết ngày 7/8/1992 có đoạn kể: "Đồng chí Đào Xuân Thái đã tham gia từ tháng 4/1945 đánh Nhật trận đầu tiên thắng lợi, tham gia đánh thẳng vào Nghĩa Lộ, sau đấy tham gia Đại đội Đoàn Văn Cự”, là 1 trong số đại đội được chở lệnh giải phóng thị xã Yên Bái. Đã một lần đại đội này ở xã Yên Lương đột kích sang bên kia sông bắn chết 3 linh Nhật đang làm nhiệm vụ canh gác. Ngày 20/8/1945 đồng chí cũng đi trong Đại đội Đoàn Văn Cự cùng với tôi tiếp quản thị xã Yên Bái. Sau ngày giải phóng Yên Bái, tôi được Xứ ủy cử làm Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh Yên Bái thì đồng chí được cử làm Trung đội trưởng Bảo vệ cơ quan tỉnh”.

Cầm trên tay “Giấy chứng nhận” do ông Ngô Minh Loan viết, tôi có phần băn khoăn, thắc mắc bởi dòng chữ viết kể đồng chí Đào Xuân Thái "được cử làm Trung đội trưởng Bảo vệ cơ quan tỉnh”, chứ không phải Đội cận vệ, ông Thái cười bảo:

- Sự thực ngày đó chúng tôi gội là Đội cận vệ, chứ không phải gọi Trungđội bảo vệ như sau này ông Loan viết. Ông Ngô Minh Loan giao cho tôi tìm người thành lập Đội cận vệ, cử tôi làm Đội trưởng. Đội cận vệ gồm 5 người: Tôi, anh Nguyễn Văn Vạn, Phạm Văn Vượng (người Âu Lâu, sau này về sống ở ngay gò Đống Đa, Hà Nội, đã mất), Nguyễn Ngọc Bách (bố của nhà thơ Ngọc Bái, ông còn kiêm thư ký cho Tinh bộ Việt Minh), Phạm Minh Tiến (say này là Bí thư thị ủy Yên Bái 1972 - 1976). Lúc đầu, Đội cận vệ vẫn làm nhiệm vụ như trước: bảo vệ cơ quan tỉnh, có nghi binh vì chính quyền mới của ta còn non trẻ, thù trong giặc ngoài còn ngấm ngầm hoạt động, phá hoại. Ngày 28/9/1945 toàn tiền trạm của quân Tưởng từ Lào Cai đến Yên Bái, tiếp theo là hàng vạn quân Tưởng của Quân đoàn 50 kéo xuống, một cảnh quân Tưởng khác từ Hàm Yên (Tuyên Quang) tràn sang huyện Yên Bình dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật. Quân Tưởng đòi ta giải tán chính quyền các cấp và lực lượng vũ trang, ép ta cung cấp cho chúng lương thực, thực phẩm. Đi theo chúng, bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động ra sức hoạt động, chống phá cách mạng. Bọn này lập ra cái gọi là Tỉnh đảng bộ do tên Vũ Nguyên Hải làm chủ nhiệm, âm mưu cướp chính quyền của ta. Trước âm mưu thủ đoạn của địch, ngay từ đầu tháng 9/1945 ta rút đại bộ phận lực lượng và các cơ quan Đảng, chính quyền khỏi thị xã chuyển sang bên hữu ngạn sông Hồng (Bảo Long) bố trí các đơn vị vũ trang hình thành thể bao vây, ngăn chặn không cho địch mở rộng phạm vi hoạt động. Do đó đã tránh được xung đột, hạn chế đến mức thấp nhất sự phá hoại của chúng.

Một lần, trước khi đồng chí Ngô Minh Loan được Trung ương cử làm đặc phái viên của Chính Phủ lên tiếp quản Lào Cai, đồng chí Ngô Minh Loan sang sông họp bàn với đồng chí Nguyễn Phúc ở nhà bà Quản (trước cửa Nhà máy đèn), ông Đào Xuân Thái được đi bảo vệ ông Loan ở cuộc họp này. Ông Thái kể: - Hôm đó, trong khi các ông đang họp trong nhà, tôi phát hiện thấy bên ngoài có bọn người đi đi lại lại dòm ngó, tôi xác định ngay đó là bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động. Lập tức, tôi có phương án bảo vệ đồng chí Loan ngay. Họp xong, ông Nguyễn Phúc với tư cách Phó chủ tịch tỉnh đang công khai điều hành chính quyền ở thị xã đàng hoàng đi thẳng về Phòng thông tin Yên Bái, còn tôi đóng giả ông Ngô Minh Loan đi từ nhà bà Quản lên Tòa sứ để ông Loan theo cửa sau ra bờ sông, có người đón đưa sang sông. Nhờ quá trình luyện tập thành thục, tôi đóng giả y hệt ông Loan, đánh lạc hướng bọn mật thám đi theo mình. Đến Sở lục lộ gần Tòa sứ thì ba tên mật thám đến sát tôi, một tên vượt lên trước chặn tôi lại, hai tên kèm chặt hai bên, định bắt tôi. Tôi ngẩng mặt

nhìn chúng. Thấy tôi không phải ông Loan, chúng tức quá, một tên vừa tát tôi vừachửi “Mẹ tiên sư mày” rồi bỏ đi. Sau ngày đó, tôi ở lại làm việc ở Phòng thông tin Yên Bái, vừa nhận nhiệm vụ trực tiếp do ông Nguyễn Phúc giao vừa có trách nhiệm bảo vệ ông. Cuối tháng 10/1945 đồng chí Ngô Minh Loan lên tiếp quản Lào Cai, đồng chí Nguyễn Phúc được giao thường trực giải quyết công việc của Đảng và chính quyền tỉnh Yên Bái. Đêm 11/11/1945 bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động giả danh quân Tưởng đến bắt ông Nguyễn Phúc và anh em ở Phòng thông tin Yên Bái, trong đó có tôi, Doãn Kim, Cao Hiên, Hồng Đức, Chí Dũng, anh Quế, anh Việt... Sau gần một tháng tra hỏi, đánh đập, tôi và ông Doãn Kim được thả vì không có chứng cứ, lại thấy chúng tôi còn trẻ, đang tuổi học trò. Ra tù, tôi và ông Doãn Kim có nói chuyện lại với bà Quản và cơ sở của ta ở thị xã Yên Bái, bàn nhau quyên góp được gần chục bộ quần áo để gửi vào cho các đồng chí trong tù. Tôi được giao nhiệm vụ đem số quần áo đó vào trại giam. Lúc đó, anh Ba Chúc vốn là Cứu quốc quân ở đồng bằng mới được cử lên nắm cơ sở ở Yên Bái, có nhà ở gần ga (con ông Hợi, nhà gần đầu máy, bên trái) tìm gặp tôi, nhờ gửi cho anh em trong tù một nải chuối, có kẹp giữa hai quả chuối khép kín một lá thư tay. Tôi ôm bọc quần áo và nải chuối vào trại giam, bọn lính kiểm tra rất kỹ, chúng tách từng quả chuối ra xem, thế là bị lộ. Lập tức, tôi bị bắt ngay vào trại giam lần thứ hai, lúc đó là vào khoảng tháng 12/1945. Bị tra hỏi, tôi một mực khai là giúp mọi người đưa các thứ vào, không biết nải chuối của ai, không biết có lá thư trong đó. Không đủ chứng cứ, lại thấy tôi còn trẻ, có vẻ thật thà, chúng cho tôi ra chỗ giám thị đề lao đun nước, phục vụ chúng, tối lại đưa vào giam cùng ông Nguyễn Phúc, do đó tôi có điều kiện thuận lợi đi lại giúp đỡ anh em trong tù, trao đổi tin tức, tình hình mình biết. Ngày đó, chúng cài vào trại giam tên Hiệu trưởng trường cấp I Giới Phiên và tên T “thuốc Bắc” tìm cách tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc ông Nguyễn Phúc, hứa sẽ bảo lãnh giúp ông ra tù. Tất nhiên, ông Nguyễn Phúc đời nào chịu nghe theo chúng, buộc chúng phải rút lui. Hơn một tuần bị giam, tôi lại được chúng thả về.

Kể đến đây, giọng ông Đào Xuân Thái trầm hẳn lại, rồi cứ ngồi trầm ngâm suy nghĩ, nét mặt phảng phất nỗi buồn ưu tư. Tôi không dám hỏi gì thêm. Có lẽ ông đang nghĩ về tình hình Yên Bái sau ngày bị giặc cướp chính quyền vô cùng căng thẳng, phức tạp. Trong tháng 11/1945 một toán quân “Việt Quốc” từ thị xã kéo sang Bảo Long và vào Vần địch đánh úp các cơ quan lãnh đạo của tỉnh, một toán khác định đánh cướp kho vũ khí của ta ở Hiền Lương, nhưng chúng đã bị lực lượng vũ trang của tỉnh và du kích các xã đánh bại. Trong khi đó, đồng chíNguyễn Phúc và đồng chí, đồng đội của ông vẫn nằm lại trong tù, sau đó trong một đêm tháng 6/1946 bọn giặc đã hèn hạ sát hại họ. Tôi nhớ hồi ký “Đốm lửa phía trước” của ông Ngô Minh Loan (1990) kể: Một tháng sau khi lên tiếp quản Lào Cai, ông Ngô Minh Loan về thẳng Hà Nội báo cáo với Xứ ủy Bắc Kỳ về tình hình Lào Cai, ông nghe tin bọn Việt Nam Quốc dân Đảng phản động cướp chính quyền ở thị xã Yên Bái, ông Nguyễn Phúc và các đồng chí của mình bị giặc bắt, lòng ông xót xa, rối bởi, ông vội xin ý kiến chỉ đạo của Xứ ủy. Xứ ủy đã biết trước tình hình và đã chuẩn bị sẵn ý kiến chỉ đạo. Xứ ủy giao cho ông Ngô Minh Loan tiếp tục về ngay Yên Bái lãnh đạo Đảng bộ, củng cố lực lượng, chờ thời cơ chiến đấu và vẫn có trách nhiệm với tỉnh Lào Cai, phát triển du kích vùng địch hậu. Xứ ủy còn bổ sung thêm đồng chí Lý Bạch Luân (Luân Tàu), người Trung Hoa lên Yên Bái tham giaBan cán sự tỉnh. Trở về Yên Bái, các đồng chí đến Bảo Long ngay, cho mở cuộc họp Tỉnh ủy để truyền đạt chỉ thị của Xứ ủy, thành lập Ủy ban hành chính tỉnh, thành lập các cơ quan giúp việc Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh, củng cố các ban của Huyện ủy và Ủy ban huyện, đồng thời cử các cán bộ trung đội về các xã tổ chức nhiều đội du kích. Đúng vào dịp đó, ông Đào Xuân Thái là người duy nhất được bọn giặc thả ra khỏi trại giam, hỏi làm sao lại không bị nghi ngờ. Sau phút trầm ngâm, ông Đào Xuân Thái kể tiếp với tôi:

- Từ trại giam về nhà, đêm đó tôi vội vượt sông sang Bảo Long ngay, tìm đến nơi ông Ngô Minh Loan đang ở nhà ông Nhuận để nhận nhiệm vụ. Ông Ngô Minh Loan bảo tôi: “Em mới ra tù, cứ ở nhà chờ đã”. Tôi trở về nhà, trong lòng thấy buồn vì có cảm giác ông Loan cảnh giác, có ý nghi ngờ tôi. Ngẫm đi ngẫm lại, tôi thấy mình bị nghi ngờ là phải thôi. Cả hai lần bị giặc bắt đều được thả, lần thứ hai còn được giặc ưu ái cho làm việc phục vụ giám thị đề lao, hỏi ai mà tin mình ngay được? May quá, nhờ anh Việt trốn thoát trại giam, tôi mới được ông Ngô Minh Loan tin tưởng, dùng lại. Chuyện là thế này: hôm đó, anh Việt và anh Hồng Đức được chúng cho phép khuân thùng phân đem ra sông Hồng đổ. Lừa lúc tên lính áp tải không để ý, anh Việt do biết bơi liền lao xuống sông, bơi lặn thẳng sang bến đò Chanh trốn thoát, còn anh Hồng Đức người Cao Bằng không biết bơi bị bắt trở lại. Anh Việt về khu căn cứ của ta, báo cáo lại mọi chuyện. Thế là rõ về tôi. Ông Ngô Minh Loan bèn cử anh Nguyễn Văn Vạn sang sông gọi tôi về tiếp tục làm việc, vẫn giữ chức Đội trưởng Đội cận vệ (anh Vạn nhiều tuổi hơn tôi, sau này về sống ở Việt Trì, lấy cô vợ bán hàng cơm, đến nay không rõ còn hay đã mất).

Đội cận vệ tiếp tục hoạt động, lúc này có thêm anh Phạm Gia Vượng được giao đóng vai đồng chí Lý Bạch Luân (Luân Tàu) khi cần thiết. Anh Vương đóng vai ông Luân Tàu quá giỏi nên đi đến đâu người ta cũng tưởng anh là ông Luân Tàu. Sau đó, Đội có thêm nhiệm vụ mới: làm cán bộ tuyên truyền, xây dụng chính sách nhằm bảo vệ lực lượng cách mạng và đi xây dựng chính quyền cơ sở. Cả đội tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi ít tuổi nhất nhưng là Đội trưởng nên phải thường xuyên lập kế hoạch hoạt động, nắm tình hình chung trong khu vực và thị xã Yên Bái, nắm cơ sở ở 7 bến đò:

- Bến đò Minh Tiến do ông Tụ phụ trách.

- Bến đò Âu Lâu do ông Nguyễn Ngọc Tùng phụ trách.

- Bến đò Bình Phượng do bà Yến phụ trách cùng các ông Đào Văn Hợp, Phạm Đăng Mẹo (bến đỏ này do ông Nguyễn Minh Đăng gây cơ sở từ trước). - Bến đò Ngòi Chanh do cô Nghĩa, ông Du phụ trách.

- Bến đò Quân Lỗ do ông Đỗ (Quân Đỗ), ông Khoát phụ trách. - Bến đò Ngôi Châu do ông từ Đền phụ trách.

- Bến đò Giới Phiên do ông Đường phụ trách.

Bên quân đội, đơn vị ông Đào Đăng Cự cử Đội huy lính khố xanh của giặc đã theo Việt Minh, nay là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1 phối hợp với tôi tổ chức lực lượng bảo an của ta (nay gọi là an ninh) làm nhiệm vụ: quản lý chặt các hương lý làm tay sai cho giặc ở bên này sông và đảm bảo trật tự an ninh ở các khu vực, thông qua cơ sở ở 7 bến sông kiểm soát những người lạ mặt qua lại trên sông. Nhờ “tai mắt” của ta ở 7 bến đò nên mọi hoạt động của bọn giặc bên thị xã Yên Bái, hay bọn phản động hoạt động ngầm bên này sông, những kẻ lạ mặt qua lại sông đều được cơ sở của ta báo về. Cũng nhờ đó mà ta đi lại liên hệ với các cơ sở bên thị xã Yên Bái khá dễ dàng. Có thể kể: Tên lý trưởng Bình Phượng đã ba lần sang sông báo cáo quan huyện về tình hình bên ta, đều được anh Thước ở phủ Trấn Yên báo cáo lại cho ta biết. Phó tổng Âu Lâu, Quân T, Lý trưởng Giới Phiên cũng vậy, thậm chí lý trưởng Giới Phiên còn cả gan sang xin quan phủ cho lập đội dõng để chống trả ta, đều được tai mắt của ta báo lại. Việc trừng trị bọn này không khó. Nhưng ta bàn bạc cẩn nhắc, không cần phải ra tay trừng trị chúng, chỉ cần trao đổi với Chánh tổng Giới Phiên (Chánh Duyệt) đến thuyết phục, răn đe chúng rằng: “Các anh đi bảo cáo với quan trên, Việt Minh đã biết cả. Ngay cả ông Phủ Tùng trước đây đã đầu hàng, ký kết với Việt Minh, còn không dám làm gì, huống nữa là các anh”. Chỉ cần vậy, những tên chỉ điểm cho giặc đã khiếp sợ, nằm im. Mặt khác, khi lực lượng ta lớn mạnh, ta không cần dọa nạt nữa, tên nào ngoan cố cứ để chúng đi báo cáo để bọn giặc bên sông biết thế mạnh của Việt Minh, không gì có thể đảo ngược, thậm chí còn “tương kế tựu kế" phục kích đánh lại chúng. Cơ sở ta cho biết: tên Lý trưởng làng Bình Phượng, người công giáo vẫn cay cú, ngoan cố, thường lợi dụng đi nhà thờ ở thị xã Yên Bái để báo cáo với địch. Ta biết, cho người theo dõi nhưng không xử tội hắn. Hắn đâu biết mọi hoạt động, hành vi của hắn đều được cơ sở bí mật của ta theo sát, nắm bắt.

Tỉnh bộ Việt Minh ngày đó đóng ở hai nơi: một ở căn nhà sát bên nhà thờ Bảo Long (lúc họp thì vào nhà thờ), một ở thôn Phúc Khánh (Bảo Long). Đội cận vệ thường phối hợp với các lực lượng vũ trang bên sông, nhất là đơn vị của anh Tiến đóng ở nhà thờ Bảo Long, cùng nhau nắm tình hình, xây dựng cơ sở, đảm bảo công tác an ninh, giữ gìn bí mật. Công tác tuyên truyền “ba không” (không nghe, không biết, không thấy) được nhân dân các dân tộc thôn làng thực hiện khá tốt, giữ được bí mật, tuy nhiên, cũng bộc lộ cả mặt hạn chế. Đó là việc ông Bình Dương là người Phú Thọ, đầu to, mắt tròn, răng cải mả, lúc nào cũng như cười. Ông đã hai lần vào khu căn cứ của ta để liên hệ, nhưng đi đến đâu, dân cũng bảo “không nghe, không biết, không thấy” nên đành bỏ về, may mà gặp được người của Đội cận vệ mới được đưa về gặp Ban lãnh đạo.

Bọn Việt Nam Quốc dân Đảng phản động cũng thành lập đội Ba Tui (biệt kích) tìm cách sang Bảo Long khủng bố, bắt cóc cán bộ ta. Một lần nghe tiếng súng nổ, anh Bách và anh Vượng cùng chủ nhà đã đưa ông Luân Tàu chạy thoát lên rừng. Ông Ngô Minh Loan ở nhà Tổng Chung cũng được anh Vạn, anh Nhuận đưa lên rừng. Giáp tết 1946, bọn chúng tổ chức một nhóm gồm 5 tên, thẳng thì mặc áo dài, thẳng thì đeo áo tơi đi trong mưa qua bến đò Giới Phiên, theo con đường Măng Cá xộc vào Bảo Long, do chính tên Hiệu trưởng trường cấp 1 Giới Phiên dẫn đường. Cơ sở của ta ở bến đò Giới Phiên đã báo cho anh Lê Nguyên, Chính trị viên một đơn vị Cứu quốc quân biết. Anh Lê Nguyên vội cuỡi con ngựa khoang trắng phóng đi báo tin và xin ý kiến ông Luân Tàu. Khi trở về thì gặp địch đã tiến vào gần nơi Tinh bộ Việt Minh đóng, cách khoảng 50 mét. Chúng bắn anh nhưng chỉ trúng ngựa. Con ngựa nhảy dựng lên, anh Lê Nguyên ngã xuống một rãnh nước bên khe dẫn nước ruộng. Anh liền rút khẩu Côn Bát bắn trả, một tên bị thương vào tay, bọn còn lại vội và tháo chạy. Nghe tiếng súng nổ, lập tức tiếng trống từ nhà thờ Bảo Long dồn dập vang lên báo động, tiếp theo là các tiếng thanh la, tù và nối dây truyền liên hoàn sang nhau từ làng này sang làng khác, nối sang xã Hợp Minh, Giới Phiên, các lực lượng đổ ra truy lùng bọn giặc. Sau sự việc này, ta họp rút kinh nghiệm, đồng thời đánh giá kết quả của công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia kháng chiến như thế là rất tốt, được nhân dân đồng loạt hưởng ứng. Cũng sau vụ việc này,khoảng đầu tháng 2/1946 các cơ quan đầu não của ta rút vào đóng ở Chiến khu Vần. Tháng 6/1946, Tỉnh ủy nhận được Chỉ thị của Trung ương về nhiệm vụ tấn công bọn phản động Việt Nam Quốc dân đảng, nhanh chóng quyết định chuyển toàn bộ lực lượng vũ trang từ Chiến khu Vần - Bảo Long sang bên tả ngạn sông Hồng đóng ở Văn Phú, Bách Lẫm để đón đánh địch từ thị xã Phú Thọ chạy lên và chuẩn bị giải phóng thị xã Yên Bái. Cũng từ đầu tháng 6/1946 Đội cận vệ hết vai trò của mình. Ty Công an Yên Bái được thành lập do ông Phan Đạo Xích được cử về làm Trưởng Ty. Anh Nguyễn Văn Vạn sang làm tình báo của Ty, có thêm anh Bình ở Âu Lâu về. Các anh Vương, Bách, Tiến chuyển sang làm cán bộ tuyên truyền xây dựng cơ sở Việt Minh. Tôi theo ông Ngô Minh Loan tiếp tục đi truy kích bọn Việt Nam Quốc dân đảng đến tận Ý Tý (Bát Xát, tỉnh Lào Cai), đến ngày 12/11/1946 thì giải phóng thị xã Lào Cai, rồi ở lại luôn tỉnh Lào Cai công tác. Trong "Giấy chứng nhận" do ông Ngô Minh Loan viết ngày 7/8/1992 có nói rõ chức danh của ông Đào Xuân Thái rằng: “Khi tôi được đưa quân đi diệt bọn Việt Nam Quốc dân đảng thì đồng chí Thái là Trung đội trưởng, phụ trách quản trị, lương thực, tiền bạc, đồng chi rất liêm khiết... Nghe những dòng hồi ức của ông Đào Xuân Thái, tôi thực sự ngạc nhiên và tự hào vì ở tỉnh ta có những người con thầm lặng làm công tác bảo vệ Ban lãnh đạo chiến khu Vần - Hiền Lương những ngày đầu chuẩn bị khởi nghĩa Cách mạng tháng 8/1945, họ là những người tiền thân để thành lập Đội cận vệ trong thời gian kháng chiến đánh đuổi bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động. Thời gian hoạt động của Đội cận vệ không nhiều (từ tháng 11/1945 đến tháng 6/1946) nhưng đã hoàn thành một cách xuất sắc những nhiệm vụ hết sức cam go, gian khổ trong hoàn cảnh ngặt nghèo “thù trong giặc ngoài" đe dọa chính quyền non trẻ của ta. Đội cận vệ thời ấy không chỉ là tổ chức tiền thân củangành công an sau này, mà còn là niềm tự hào, là trang sử hào hùng vẻ vang buổi ban đầu xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ của tỉnh Yên Bái. 3. Sau ngày 12/11/1946 giải phóng thị xã Lào Cai khỏi ách thống trị của bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động, ông Đào Xuân Thái được giao nhiệm vụ tổchức hệ thống giao thông liên lạc với tổng số 73 người, thông suốt từ Lào Cai đến Yên Bái, Liên khu 10 và các huyện, gọi là Đội giao thông kháng chiến do ông đích thân là Đội trưởng. Đến tháng 12/1947 Đội này hết vai trò, ông Đào Xuân Thái được cử làm Phó ty Bưu điện tỉnh Lào Cai. Được tin anh trai Đào Xuân An hy sinh ở Kim Nội - Mù Cang Chải tháng 01/1947, thương anh và căm thù giặc, ông lại xin chuyển sang quân đội, được trên cử về làm Trưởng ban cán sự huyện Trấn Yên (tỉnh Yên Bái), trực tiếp xây dựng trung đội 60 của huyện. Ông vừa phụ trách vừa tổ chức, chỉ đạo trung đội 60 làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ huyện, đánh địch, vừa chi viện cho Văn Bản, Than Uyên, Văn Chấn, đã 6 lần bổ sung quân cho các đơn vị bạn, hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Năm 1949 ông được điều về Đại đội 97 quân chủ lực tỉnh Yên Bái, làm Trung đội trưởng Trung đội 24, tham gia đánh Pháp ở Than Uyên, bắt Bang Rường, bắt cả đại đội địch đầu hàng. Khoảng ngày 28, 29 tháng 4 đến 30/5/1950 ông tham gia đánh bọn Tàu Tưởng ở Khe Mười, Hoàng Tạo, Đông Quảng (Trấn Yên, Yên Bái). Ông bị trúng đạn ở hai đùi, là thương binh hạng 4/4.

Sau ngày điều trị vết thương trở về, ông Đào Xuân Thái tiếp tục được giao các nhiệm vụ mới như.

- Từ tháng 2 đến tháng 9/1952: Trưởng tiểu ban thông tin liên lạc của Tỉnh đội Yên Bái.

- Từ tháng 10/1952 đến tháng 12/1952: Trưởng tiểu ban tác chiến quân báo Tỉnh đội Yên Bái.

- Từ tháng 1/1953 đến tháng 5/1953: Học lớp chính trị hiệp lý biên của trưởng Quân khu Tây Bắc.

- Từ tháng 6/1953 đến tháng 8/1954: Phụ trách công tác chính trị tại huyện Mường Khương, Chính trị viên phó Đại đội Mường Khương thuộc huyện đội Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

- Từ tháng 8/1954 đến tháng 3/1956: Quyền chính trị viên Huyện đội Bảo Thắng, trực tiếp là Chính trị viên Đại đội Bảo Thắng (tỉnh Lào Cai).

- Từ tháng 4/1956 đến tháng 9/1959: Trưởng tiểu ban quân lực Tỉnh đội Lào Cai.

- Từ tháng 10/1959 đến tháng 10/1961: Học trường Quân chính Quân khu Việt Bắc.

-Từ tháng 11/1961 đến tháng 3/1962: Trưởng ban vận động viên kế hoạch dân quân tỉnh Lào Cao.

- Từ tháng 4/1962 đến tháng 5/1964: Chính trị viên huyện đội Bảo Thắng (tỉnh Lào Cai).

- Từ tháng 6/1964 đến tháng 01/1965: Trưởng ban dẫn quân động viên kế hoạch tỉnh Lào Cai.

- Từ tháng 2/1965 đến tháng 6/1965: Huyện đội trưởng Bát Xát (tỉnh Lào Cai). - Từ tháng 6/1965 đến tháng 12/1965: Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn cao pháo Lạng Sơn.

- Từ tháng 01/1966 đến tháng 11/1968: Chính trị viên Tiểu đoàn công binh thuộc Mặt trận Quân khu 5.

- Từ tháng 12/1968 đến tháng 5/1970: Chính trị viên Tiểu đoàn 1 (Phay Khắt) Trung đoàn 246, chiến đấu trên Mặt trận Đường 9 Quảng Trị.

- Từ tháng 6/1970 đến tháng 6/1973: Quyền chính trị viên Đoàn T2 tù binh thuộc Quân khu Việt Bắc.

- Từ tháng 6/1973 đến tháng 2/1975: Được điều về làm trợ lý địch vận của Quân khu Việt Bắc.

- Từ tháng 2/1975 đến tháng 2/1976: Thị đội trưởng thị xã Yên Bái, tỉnhYên Bái.

- Từ tháng 12/1976 đến nay: Nghỉ hưu với cấp bậc Đại úy tại số nhà 65, đường Nguyễn Du, tổ 26 (nay là tổ 34) phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái. Điểm lại cuộc đời hoạt động cách mạng và tham gia quân ngũ của Đại úy Đào Xuân Thái, ta thấy ông là một con người trung thành và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng, quân đội giao. Suốt 11 năm đeo quân hàm Đại ủy với nhiều trọng trách khác nhau, ông chỉ biết tận tâm với với công việc được giao, không một đòi hỏi, thắc mắc. Ông được Đảng, Nhà nước công nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa, được trao tặng 10 Huân chương, trong đó có 3 Huân chương kháng chiến hạng Nhất chống Pháp, chống Mỹ cứu nước và Bảo vệ Tổ quốc cùng 12 Bằng khen, 50 giấy khen, là một minh chứng cho sự cống hiến của ông. Về hưu, mặc dù tuổi già sức yếu, vợ mất năm 2011, ông vẫn vững vàng trong cuộc sống, là điểm tựa tinh thần cho con cháu vươn lên trong học tập, công tác. Tham gia Hội Cựu chiến binh, ông luôn là một cán bộ gương mẫu, có trách nhiệm. Và hơn hết, những kỷ niệm về chiến tranh, về sự hy sinh của đồng đội ở nơi chiến trường vẫn luôn thôi thúc, ám ảnh ông. Bởi vậy, khi biết gia đình liệt sỹ Nguyễn Công Định có nguyện vọng tha thiết tìm lại anh, ông lại là người chỉ huy trực tiếp chôn cất liệt sỹ Nguyễn Công Định trên chiến trường đồi Con Vịt, chân cao điểm 425, bắc Đường 9, ông sẵn sàng nhận lời lên đường ngay. Thật cảm phục ông khi bước vào tuổi 84 tóc bạc trắng vẫn không quản đường xa vất vả, đi cùng nhà thơ Ngọc Bái vượt qua ngót ngàn cây số tìm đồng đội trong tháng 5/2012. Cuộc tìm kiếm sau 43 năm không đơn giản chút nào. Lúc đi xe, cuối cùng thì đi bộ, leo đèo, lội suối như cuộc hành quân từ thuở thanh niên năm xưa. Nhà thơ Ngọc Bái viết bài ký “Tìm đồng đội ở chiến trường xưa không dễ” đăng trong Tạp chí “Văn nghệ Yên Bái” số 157 tháng 7/2012 có kể lại hình ảnh ông thật cảm động: “Ông Đào Xuân Thái đi đường nhẩm đếm phải qua 13 đoạn suối và khe, có chỗ nước sâu ngang ngực và chừng ấy đoạn đèo mới đến được chân cao điểm 425. Trông ông Thái chẳng gậy lội suối, leo dốc, cực nhọc chẳng khác gì xưa hành quân, lắm lúc thấy ông mệt, mọi người bảo nhau dừng lại chờ”. Ông còn trả lời nhà báo Tân Lâm rằng: “Các liệt sỹ hy sinh vì đất nước nhưng cũng vì chính cuộc sống của tôi. Tôi nhớ ơn họ và cũng là mệnh lệnh của lương tâm. Để thấy chúng tôi không bội bạc!" Ông kể: “Địa bàn này đơn vị tôi tác chiến 117 trận lớn nhỏ, có trận thắng và có cả những trận hy sinh quá lớn”. Ông tự hào về họ và không thể không đến đây tìm lại họ, đưa hài cốt về cho gia đình họ. Và từ ngày đó đến nay, hàng năm tại gia đình ông vẫn làm lễ cầu siêu cho anh em đơn vị đã hy sinh trên chân cao điểm 425 bắc Đường 9 Quảng Trị. Anh em cán bộ, chiến sỹ biết chuyện, ai nấy đều cảm kích từ khắp nơi tìm đến nhà ông cùng làm lễ cầu siêu.

Có lẽ không có gì để nói hơn nữa, chỉ những suy nghĩ và việc làm của người Đại úy - Cựu chiến binh già Đào Xuân Thái cũng đã thấy tấm lòng tận tụy, tri ân của ông đối với đồng chí, đồng đội. Đó là một trong những phẩm chất cao quý của anh “bộ đội Cụ Hồ” vẫn tỏa sáng trong ông.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn