ĐỒNG CHÍ LÊ DUẨN – MỘT TƯ TƯỞNG LỚN, MỘT NHÂN CÁCH LỚN, NHÀ LÃNH ĐẠO KIỆT XUẤT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Họ và tên : Lê Hồng Lộc
Lớp : K52A Sư phạm Lịch sử - Địa lý
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA VỀ ĐỒNG CHÍ LÊ DUẨN – MỘT TƯ TƯỞNG LỚN, MỘT NHÂN CÁCH LỚN, NHÀ LÃNH ĐẠO KIỆT XUẤT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Lời tựa
“Suốt đời tôi hoạt động cho cách mạng, cho Tổ quốc và nhân dân. Dù ở cương vị nào, tôi cũng chỉ có một mục đích duy nhất là phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và hạnh phúc của nhân dân.”
— Đồng chí Lê Duẩn
1. Mạch nguồn quê hương Quảng Trị và sự lựa chọn con đường cách mạng
Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam trong thế kỷ XX là một trang sử vàng chói lọi, được dệt nên bằng công sức, trí tuệ và xương máu của hàng triệu người con ưu tú. Giữa chặng đường lịch sử đầy bão táp ấy, hình ảnh Tổng Bí thư Lê Duẩn hiện lên như một trong những kiến trúc sư hàng đầu của chiến thắng, một nhà tư tưởng lớn, một học trò xuất sắc, người đồng chí thân thiết và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Đồng chí Lê Duẩn (tên khai sinh là Lê Văn Nhuận) sinh ngày 7 tháng 4 năm 1907 trong một gia đình lao động nghèo giàu truyền thống yêu nước tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Quảng Trị – vùng đất miền Trung quanh năm nắng gió, kiên cường qua bao biến cố lịch sử – chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, bản lĩnh và ý chí sắt đá của người thanh niên Lê Văn Nhuận.
Cảnh ngộ đất nước dưới ách đô hộ tàn bạo của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã tác động sâu sắc đến tư tưởng của anh từ thưở thiếu thời. Chứng kiến nỗi khổ đau cực cùng của người dân lao động bần cùng, bị tước đoạt mọi quyền sống cơ bản, lòng căm thù giặc và khát vọng giải phóng dân tộc đã sớm nhen nhóm trong lòng người thanh niên vùng dải đất miền Trung.
Năm 1926, khi mới 19 tuổi, Lê Duẩn bắt đầu dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng. Anh gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng – một trong những tổ chức tiền thân có xu hướng tiến bộ lúc bấy giờ. Với tư duy sắc bén và tinh thần học hỏi không ngừng, anh sớm tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và các tác phẩm lý luận của Nguyễn Ái Quốc truyền về nước.
Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành lập, mở ra bước ngoặt vĩ đại cho lịch sử dân tộc, đồng chí Lê Duẩn trở thành một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng. Từ cột mốc lịch sử ấy, trọn đời đồng chí đã dâng hiến trọn vẹn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
2. Lửa thử vàng trong ngục tù đế quốc: Bản lĩnh gang thép của người chiến sĩ cộng sản
Chặng đường cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 là một thời kỳ thử thách khắc nghiệt đối với mọi chiến sĩ cộng sản. Sự đàn áp dã man của thực dân Pháp đã biến đất nước thành những trại giam khổng lồ, nơi hàng ngàn cán bộ, đảng viên bị bắt bớ, tù đày.
Đồng chí Lê Duẩn là một trong những lãnh đạo cách mạng bị kẻ thù truy bắt và giam giữ nhiều lần nhất. Năm 1931, đồng chí bị bắt tại Hải Phòng và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Kẻ thù đã đưa đồng chí qua hàng loạt nhà tù khét tiếng tàn bạo như nhà lao Quảng Trị, Thừa Phủ (Huế), Hà Nội, Buôn Ma Thuột và "địa ngục trần gian" Côn Đảo.
Tại các nhà tù đế quốc, thực dân Pháp đã dùng đủ mọi thủ đoạn tra tấn, từ các nhục hình thể xác đến đòn thù tinh thần hòng làm nhụt chí người chiến sĩ cộng sản. Thế nhưng, trong chốn lao tù tối tăm và khắc nghiệt ấy, khí tiết và bản lĩnh của Lê Duẩn chưa bao giờ bị lay chuyển.
Không chỉ kiên cường chịu đựng đòn thù, đồng chí còn biến nhà tù đế quốc thành "trường học cách mạng". Cùng với các đồng chí lãnh đạo khác, Lê Duẩn đã thành lập các chi bộ đảng trong tù, tổ chức dạy lý luận Mác - Lênin, nghiên cứu thực tiễn cách mạng Việt Nam, mở các lớp học văn hóa và lý luận cho anh em tù chính trị.
Những năm tháng giam cầm tại Côn Đảo đã tôi luyện ở Lê Duẩn một tư duy lý luận sâu sắc, nhãn quan chính trị tinh tường và khả năng đúc kết thực tiễn vượt trội. Những trận đòn tra tấn tàn bạo của kẻ thù không những không bẻ gãy được ý chí của anh, mà còn đúc kết nên một bản lĩnh lãnh đạo kiên cường, chuẩn bị cho những sứ mệnh lịch sử to lớn sau này.
3. Trực tiếp chỉ đạo chiến trường Nam Bộ: Người con thủy chung của phương Nam
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với thù trong giặc ngoài. Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược miền Nam, âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi khối đại đoàn kết dân tộc.
Trong hoàn cảnh hiểm nghèo ấy, đồng chí Lê Duẩn được Trung ương Đảng và Bác Hồ tin tưởng phân công vào Nam chỉ đạo phong trào kháng chiến. Trên cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (sau đó là Bí thư Trung ương Cục miền Nam), đồng chí đã gắn bó sâu sắc với vùng đất phương Nam trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954).
Tại chiến trường Nam Bộ – nơi địa hình sông rạch chằng chịt, lực lượng cách mạng ban đầu còn nhiều phân tán và phức tạp – đồng chí Lê Duẩn đã thể hiện tài năng tổ chức và thu phục nhân tâm tuyệt vời. Đồng chí nhanh chóng hợp nhất các lực lượng vũ trang, củng cố hệ thống tổ chức Đảng, xây dựng Mặt trận Việt Minh Nam Bộ vững mạnh.
Đồng chí đã trực tiếp lăn lộn qua khắp các vùng căn cứ Đồng Tháp Mười, U Minh, Bến Tre, Tây Ninh... sống trong lòng dân, được nhân dân Nam Bộ che chở, nuôi dưỡng. Tình cảm ruột thịt, thủy chung son sắt giữa đồng chí Lê Duẩn và đồng bào miền Nam được đơm hoa kết trái từ chính những năm tháng gian khổ, chia ngọt sẻ bùi ấy.
Chính thực tiễn chiến đấu phong phú và gian lao tại chiến trường Nam Bộ đã giúp đồng chí tích lũy những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá về chiến tranh nhân dân, về sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, làm nền tảng cho việc hình thành đường lối chiến lược cách mạng miền Nam trong giai đoạn chống Mỹ sau này.
4. Tác giả "Đề cương cách mạng miền Nam" và đường lối đánh Mỹ sáng tạo
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền. Đế quốc Mỹ nhảy vào hất chân Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, tiến hành các cuộc đàn áp, lê máy chém đi khắp miền Nam nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng.
Trực tiếp chứng kiến cảnh đồng bào miền Nam bị khủng bố dã man, đồng chí Lê Duẩn – lúc này vẫn bí mật ở lại miền Nam chỉ đạo phong trào – đã trăn trở đêm ngày tìm con đường sống cho cách mạng.
Năm 1956, tại căn cứ Bến Tre, đồng chí Lê Duẩn đã hoàn thành bản dự thảo lịch sử: "Đề cương cách mạng miền Nam". Đây là một văn kiện mang tầm vóc chiến lược kiệt xuất, đặt nền móng lý luận và thực tiễn cho toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Trong bản Đề cương, đồng chí Lê Duẩn đã phân tích sâu sắc bản chất của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, khẳng định nhân dân miền Nam không có con đường nào khác ngoài con đường dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Bản Đề cương cách mạng miền Nam chính là tiền đề quan trọng để Hội nghị Trung ương 15 (khóa II) của Đảng năm 1959 ban hành Nghị quyết 15 lịch sử, mở đường cho phong trào "Đồng khởi" bùng nổ khắp miền Nam, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công dũng mãnh.
5. Tổng Bí thư điều hành hai chiến lược cách mạng: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào"
Năm 1960, tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ năm 1976 là Tổng Bí thư). Gần 26 năm liên tục đứng ở vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng (1960 – 1986), đồng chí Lê Duẩn đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những ghềnh thác hiểm trở nhất.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Tổng Bí thư Lê Duẩn, cách mạng Việt Nam đã giơ cao hai ngọn cờ chiến lược:
1. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc: Xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam.
2. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam: Nhằm đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, hoàn thành giải phóng miền Nam.
Tư duy chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thể hiện sự kết hợp tài tình giữa tư tưởng quân sự Mác - Lênin, truyền thống đánh giặc của dân tộc và nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh. Đồng chí là người khởi xướng và chỉ đạo thực hiện tư tưởng tiến công: "Nắm thắt lưng địch mà đánh", "Kiên quyết tiến công, liên tục tiến công".
Đồng chí đã cùng Bộ Chính trị chỉ đạo đánh bại lần lượt các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ:
- Đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961 – 1965) bằng sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, hình thành ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận).
- Đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965 – 1968) bằng việc chủ động mở Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại Pa-ri.
- Đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ở miền Bắc, đỉnh cao là trận "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri năm 1973, rút toàn bộ quân đội về nước.
Trước thời cơ lịch sử xuất hiện vào đầu năm 1975, với nhãn quan quân sự cực kỳ sắc bén, Tổng Bí thư Lê Duẩn và Bộ Chính trị đã đưa ra quyết định lịch sử: Mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 với tư tưởng chỉ đạo đanh thép: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng hoàn toàn miền Nam!".
Đại thắng Mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã kết thúc trọn vẹn 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, thu non sông về một mối, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập, tự do và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
6. Nhà tư tưởng lý luận lớn và phong cách lãnh đạo kiệt xuất
Không chỉ là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị kiệt xuất trong thời chiến, Tổng Bí thư Lê Duẩn còn là một nhà lý luận lớn của cách mạng Việt Nam, có những đóng góp vô cùng quan trọng vào kho tàng lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
a. Tư tưởng về "Làm chủ tập thể"
Đồng chí Lê Duẩn là người sáng lập và phát triển lý luận về sế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Theo đồng chí, làm chủ tập thể là bản chất của chủ nghĩa xã hội, bao gồm làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; làm chủ cả nước, từng địa phương và từng cơ sở. Trong đó, nhân dân lao động là người làm chủ, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý.
b. Đường lối công nghiệp hóa và xây dựng nền kinh tế
Đồng chí Lê Duẩn đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đồng chí đề xuất đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa với trọng tâm là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương.
c. Phong cách lãnh đạo gần dân, trọng tình nghĩa
Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí Lê Duẩn suốt đời giữ trọn lối sống vô cùng đơn giản, khiêm tốn và tình nghĩa. Đồng chí luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải thương yêu nhân dân, phải sống gần dân, nghe dân nói và thấu hiểu những gian khổ của nhân dân.
Đối với đồng chí, đồng đội, đồng chí Lê Duẩn luôn dành một tình cảm chân thành, sâu sắc. Đặc biệt, đối với miền Nam "thành đồng Tổ quốc", đồng chí luôn mang trong mình một tình cảm ruột thịt, đau đớn trước những mất mát của đồng bào và quyết tâm bằng mọi giá phải giải phóng miền Nam để đem lại bình yên cho nhân dân.
7. Di sản trường tồn cùng non sông đất nước
Đồng chí Lê Duẩn trút hơi thở cuối cùng vào ngày 10 tháng 7 năm 1986 tại Hà Nội, thọ 79 tuổi, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, cũng như bạn bè quốc tế.
Gần 60 năm hoạt động cách mạng liên tục, trong đó có 26 năm trên cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng, cuộc đời đồng chí Lê Duẩn gắn liền với những chặng đường oanh liệt và vẻ vang nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.
Những di sản quý báu mà Tổng Bí thư Lê Duẩn để lại cho dân tộc bao gồm:
- Một tinh thần độc lập, tự do, tự lực, tự cường sắt đá: Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập dân tộc trong mọi hoàn cảnh.
- Một hệ thống tư tưởng chiến lược sáng tạo: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sáng tạo trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân.
- Một tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng: Trọn đời trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng phụng sự nhân dân.
Hôm nay, trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước, những bài học kinh nghiệm và tư tưởng chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn vẫn còn nguyên giá trị. Di sản ấy tiếp tục là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, soi đường cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
8. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH THỐNG
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Đồng chí Lê Duẩn - Nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2017), Tổng Bí thư Lê Duẩn với cách mạng Việt Nam, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội.
3. Lê Duẩn (1992), Tuyển tập Lê Duẩn (1950 - 1986), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4. Viện Lịch sử Đảng (2010), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Tập I & Tập II), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam & Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ: Các bài viết chuyên đề, tư liệu lưu trữ về cuộc đời và sự nghiệp Tổng Bí thư Lê Duẩn.


