Khác

Đồng chí Lê Duẩn và việc ra đời Đề cương cách mạng miền Nam năm 1956

Tháng 5-1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta thắng lợi, hiệp định Giơnevơ được ký kết, trong đó có nội dung rất quan trọng: “Các bên tham gia hội nghị thừa nhận về nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; việc hiệp thương giữa hai miền bắt đầu từ ngày 20-7-1955 và tổng tuyển cử tiến hành vào tháng 7-1956; quyết định lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam”.

Quảng Trị20/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong khi ta coi hiệp định Giơnevơ là cơ sở pháp lý quốc tế để tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước thì đế quốc Mỹ ngang nhiên không chấp nhận các điều khoản của hiệp định, xúc tiến kế hoạch xâm nhập vào miền Nam thay thế thực dân Pháp, xâm chiếm miền Nam bằng chính sách thực dân mới, đốc thúc ngụy quân, ngụy quyền tay sai ra sức phá hoại hiệp định bằng mọi biện pháp với thủ đoạn tàn ác và thâm hiểm.

Sau khi gạt Pháp ra khỏi guồng máy cai trị và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới vào miền Nam, Mỹ – Diệm tập trung thực hiện biện pháp chiến lược “tố cộng, diệt cộng” để đàn áp khủng bố phong trào yêu nước, trả thù những người kháng chiến cũ, tiêu diệt cơ sở cách mạng miền Nam. Chúng coi “tố cộng, diệt cộng” là “quốc sách”. Với khẩu hiệu: “Giết nhầm còn hơn bỏ sót”, chúng chủ trương tiêu diệt hết những người cộng sản, tiêu diệt cả tổ chức và tư tưởng cộng sản. Chúng đã huy động mọi lực lượng quân sự, an ninh, hành chính, tình báo, thông tin tuyên truyền.... tiến hành khủng bố, đàn áp toàn diện cả quân sự, chính trị, tâm lý, kinh tế… cực kỳ thâm độc, tàn bạo. Chúng dùng quân đội mở nhiều cuộc hành quân càn quét quy mô lớn, dài ngày như “Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu” kéo dài 9 tháng (5/1956 – 2/1957) ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ, “Chiến dịch Trương Tấn Bửu” trong 7 tháng (7/1956 – 2/1957) ở 8 tỉnh miền Đông Nam Bộ… để triệt phá cách mạng, tàn sát những người yêu nước, khủng bố những người kháng chiến cũ mà chúng gọi là cộng sản hoặc phần tử cộng sản…; chúng thẳng tay bắt bớ, tra tấn, chém giết những người yêu nước. Cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu. Trong lúc đó, Trung ương chưa chủ trương chuyển hướng đấu tranh, cán bộ, đảng viên và đồng bào ta ở miền Nam vẫn dùng hình thức đấu tranh chính trị không dám dùng vũ trang tự vệ. Nhân dân miền Nam sống như nghẹt thở, Cách mạng miền Nam bị đẩy vào bước khó khăn chưa từng thấy, trải qua một thời kỳ thoái trào nguy ngập tưởng chừng không gượng dậy nổi.

Trước tình hình đó, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (6-1956) đã khẳng định một hướng mới cho cách mạng miền Nam là: Đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tự vệ. Nghị quyết này đã qua điện đài truyền xuống Xứ ủy Nam Bộ và Liên Khu ủy V. Từ năm 1956 – 1957, hàng chục đơn vị vũ trang cách mạng ra đời ở Nam Bộ, nhiều đội trừ gian thành lập ở Liên Khu V (“Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”- tập II, trang 51).

Đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó, từ mùa thu năm 1955 đến mùa thu năm 1956, ở Bến Tre và Sài Gòn, đồng chí Lê Duẩn, khi ấy là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đã soạn thảo Đề cương Cách mạng miền Nam chuyển xuống các đảng bộ nghiên cứu và góp ý kiến. Đề cương được nghiên cứu và thảo luận kỹ trong Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ họp ở Phnôm-Pênh cuối năm 1956, đầu năm 1957 (Đề cương Cách mạng miền Nam được phác thảo ở Bến Tre từ mùa khô năm 1955. Lúc đầu đưa ra thảo luận trong Hội nghị các Bí thư Tỉnh ủy miền Tây Nam Bộ, sau đó ở miền Đông Nam Bộ và cuối cùng ở Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ họp ở Phnôm-Pênh tháng 12-1956 (“Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”- tập II, trang 52).

Về bối cảnh và địa điểm đồng chí Lê Duẩn soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam:

Cho đến nay, nhiều giả thuyết khác nhau về định địa danh xuất xứ của bản Đề cương cách mạng miền Nam. Có người quả quyết rằng tác giả đã soạn thảo bản đề cương này giữa lòng thành phố Sài Gòn. Lại có người phán đoán nó ra đời tại vùng đất Mũi ở Cà Mau. Cũng có người tin chắc rằng nó được khai sinh trên mảnh đất phía Nam của vùng cao nguyên miền thượng. Căn cứ theo lời kể rất đáng tin cậy của các đồng chí Nguyễn Văn Hoành (Tư Hoành) và Trần Văn Hoành (Năm Hoành) - những người cộng sự gần gũi nhất của đồng chí Lê Duẩn trong những tháng năm bí mật hoạt động cách mạng ở miền Nam, thì bản sơ thảo đề cương lịch sử này, lần đầu tiên đã được đồng chí Lê Duẩn viết dưới mái chòi con nằm ẩn mình giữa vòng rào hoa dâm bụt trong vườn mảng cầu ở phía sau ngôi nhà của vợ chồng ông Huỳnh Văn Diêm (Năm Diêm) ngụ tại xóm Láng Cháo, ấp Lung Lá, xã Phú Mỹ (nay là xã Phú Tân) thuộc vùng sâu của huyện Cái Nước. Đây là gia đình cơ sở chí cốt với cách mạng, đã được đồng chí Lê Duẩn ở lâu ngày nhất.

Trong những tháng năm đồng chí Lê Duẩn bí mật hoạt động cách mạng ở miền Nam, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trải qua thời kỳ vô cùng khó khăn, ác liệt. Trước sức đánh phá của địch qua nhiều đợt “tố cộng, diệt cộng” cực kỳ tàn bạo và những chiến dịch càn quét khốc liệt, cách mạng miền Nam chịu đựng những tổn thất hết sức nặng nề. Chỉ trong 4 năm ở Nam Bộ (1955 - 1958), đã có tới 70.000 cán bộ, đảng viên ta bị địch giết, gần 900.000 cán bộ, nhân dân bị bắt bớ tù đày, khoảng 200.000 người bị tra tấn thành thương tật.

Đồng chí Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn soạn thảo bản Đề cương cách mạng miền Nam giữa lúc kẻ thù đang liên tiếp mở các “chiến dịch Nguyễn Huệ” và “chiến dịch Thoại Ngọc Hầu” tiến hành những cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn, kéo dài ngày tại vùng rừng U Minh và khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Bản đề cương quý giá này là sản phẩm tinh hoa trí tuệ và nhiệt tình cách mạng của đồng chí Lê Duẩn, được kết tinh bởi máu xương và nước mắt của hàng triệu đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào yêu nước. Nó đã trở thành cơ sở cho Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) năm 1959 về con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, đã đưa cách mạng miền Nam vượt qua giai đoạn thử thách nghiêm trọng nhất, từ thoái trào và thế gìn giữ lực lượng chuyển hẳn sang thế tiến công.

Hồi tưởng lại giai đoạn lịch sử này, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong bài viết nhân kỷ niệm 50 năm bản Đề cương cách mạng miền Nam ra đời cho biết: “Đề cương cách mạng miền Nam đã được hình thành và chín muồi dần trong tư duy đồng chí Lê Duẩn kể từ khi kẻ thù thẳng tay đàn áp khủng bố cán bộ, đồng bào ta và ra sức phá vỡ các cơ sở cách mạng tại khu vực các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Khi ở Quản Phú, phía Vàm Đình thuộc xã Tân Hưng Tây, huyện Cái Nước, đồng chí đã căn dặn tôi phải theo dõi sát sao các cuộc tàn sát đẫm máu của địch để kịp thời phát động sâu rộng lòng căm thù địch trong quần chúng, hướng tới việc sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng”.

Đặc biệt, người có công chắp bút viết lại các ý tưởng và thể hiện được tư duy sắc sảo của đồng chí Lê Duẩn thành văn bản Đề cương cách mạng miền Nam là đồng chí Châu Quốc Tuấn - một cán bộ tận tụy và dồi dào năng lực, thư ký riêng đồng chí Lê Duẩn hồi đó. Nhưng do chữ đồng chí Châu Quốc Tuấn khó xem, nên khi viết tới đâu phải nhờ đồng chí Trần Văn Hoành (Năm Hoành) chép tới đó, rồi trình cho đồng chí Lê Duẩn đọc lại để sửa sang, chỉnh lý và bổ sung. Bản đề cương lịch sử này hoàn thành xong vào mùa thu năm 1956 và đã gửi ra tới thủ đô Hà Nội trong tháng 12 năm đó.

Trong nhiều năm qua, bản Đề cương cách mạng miền Nam đã được Đảng ta đánh giá là cơ sở của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 - hội nghị lịch sử do Hồ Chủ tịch chủ tọa họp tại thủ đô Hà Nội vào tháng 1-1959, xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng. Hội nghị Trung ương lần thứ 15 - hội nghị lịch sử do Hồ Chủ tịch chủ tọa họp tại thủ đô Hà Nội vào tháng 1-1959, xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng. Tuy nhiên, để cho bản đề cương này được hóa thân nhuần nhuyễn vào trong nghị quyết, cả một tập thể tác giả đã tốn biết bao thời gian và tâm lực, phải viết đi viết lại đến 27 lần dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Duẩn.

Trong bài viết của mình, cố Thủ tướng Võ văn Kiệt cho biết: khoảng tháng 5 hoặc tháng 6/1956, đồng chí Lê Duẩn từ miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn và ở tại số 29 Huỳnh Khương Ninh (khu Đa Kao, Quận 1-Thành phố Hồ Chí Minh). Từ đó đến cuối năm 1956, đồng chí Lê Duẩn hoàn thành bản đề cương "Đường lối Cách mạng miền Nam Việt Nam", sau đổi thành "Đề cương cách mạng miền Nam", dài 24 trang viết tay.

Nội dung cơ bản của Đề cương cách mạng miền Nam: Bản đề cương gồm 5 phần:

I- Ba nhiệm vụ chính của cả nước hiện nay.

II- Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng của cách mạng miền Nam.

III- Yêu cầu và khẩu hiệu của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam.

IV- Hình thức đấu tranh và khả năng phát triển của phong trào cách mạng miền Nam.

V- Bài học lịch sử và những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam.

Kết luận.

- Đề cương nêu rõ: Ngày 20-7-1956 đã không có tổng tuyển cử như Hiệp định Giơnevơ quy định. Nhân dân ta ở miền Nam đang rên xiết dưới ách áp bức, bóc lột, tù đày, chém giết man rợ, đất nước bị chia cắt và bị chiến tranh của Mỹ – Diệm hăm dọa. Tình hình đó buộc nhân dân phải vùng dậy đập tan chế độ Mỹ – Diệm để tự cứu mình. Đề cương nêu rõ 3 nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đó. Ba nhiệm vụ đó là:

1. Củng cố thật vững chắc miền Bắc.

2. Đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam.

3. Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ trên thế giới.

Trên cơ sở phân tích sâu sắc 3 nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước, đồng chí Lê Duẩn đã đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Nam:“Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính chất dân tộc, dân chủ để cùng với miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ nhân dân”.

Như vậy, trong khi cùng đồng bào miền Bắc thực hiện mục đích chung là hòa bình thống nhất Tổ quốc, hoàn thành độc lập, dân chủ nhân dân trong cả nước, nhân dân ta ở miền Nam còn theo đuổi mục tiêu riêng là đấu tranh để tự giải phóng khỏi ách thực dân phong kiến.

Hai mục tiêu nói trên gắn chặt với nhau. Phong trào cách mạng của cả nước đấu tranh chống Mỹ - Diệm nhằm thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc tạo thuận lợi rất lớn cho nhân dân miền Nam đứng lên đấu tranh chống ách độc tài phát xít của Mỹ - Diệm. Ngược lại, chính trong quá trình đấu tranh chống Mỹ - Diệm để tự giải phóng, nhân dân miền Nam góp phần rất tích cực vào sự nghiệp hòa bình, thống nhất nước nhà”.

- Đề cương Cách mạng miền Nam nêu ra xu thế phát triển tất yếu của xã hội miền Nam: “Muốn chống Mỹ – Diệm, ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác”.

- Đồng chí Lê Duẩn cũng nêu ra 3 yêu cầu và khẩu hiệu đấu tranh chung cho cách mạng miền Nam:1. Hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ là nguyện vọng của nhân dân ta.2. Tự do, dân chủ là yêu cầu bức thiết để bảo đảm tính mệnh, tài sản, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta ở miền Nam3. Công ăn việc làm, tiền lương đủ sống cho thợ thuyền; giảm tô, giảm thuế, không được cướp lại ruộng đất của dân cày; bảo vệ và mở mang công thương nghiệp dân tộc; hạ giá sinh hoạt, cải thiện đời sống; đó là đòi hỏi bức thiết của các tầng lớp nhân dân ở miền Nam.

- Đề cương Cách mạng miền Nam nêu ra phương hướng: “Dựa vào lực lượng cách mạng chính trị của quần chúng làm căn bản” để đánh đổ chính quyền Mỹ – Diệm. Trong bản Đề cương, đồng chí cũng đưa ra các phương pháp và hình thức đấu tranh cụ thể phù hợp với tương quan lực lượng cách mạng và quân địch lúc bấy giờ.

- Đề cương Cách mạng miền Nam dự kiến: Nếu cuộc nổi dậy của nhân dân thành công sẽ thành lập chính quyền liên hiệp để cùng cả nước thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ (Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - tập II, trang 53).

- Đề cương Cách mạng miền Nam nêu ra 6 bài học chủ yếu của Cách mạng Tháng Tám để vũ trang trong lý luận cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên bước đường sắp tới: có lực lượng bên trong; nắm thời cơ bên ngoài; có Đảng Mác-Lênin lãnh đạo; liên minh công nông; mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi; lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù… (xem Lê Duẩn: Tuyển tập, tập I (1950 - 1975)- NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 75 – 122)

Ý nghĩa của Đề cương:

Đề cương Cách mạng miền Nam có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng đối vơi sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước; góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận và cơ sở chính trị cho Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng.

Theo tinh thần của Đề cương Cách mạng miền Nam, các đảng bộ miền Nam có ý thức chuẩn bị cuộc nổi dậy, trong khi chờ đợi chủ trương chính thức của Trung ương. Vì lẽ đó, Đề cương Cách mạng miền Nam đã góp phần tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho cao trào đồng khởi năm 1960 ở miền Nam sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1959).

Trong một bài viết của mình, đồng chí Trần Kiên - cố ủy viên Trung ương Đảng- Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương nói rõ: “Trong những năm 1956- 1957, Mỹ và tay sai trắng trợn chà đạp Hiệp định Giơnevơ, liên tiếp mở các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, thẳng tay khủng bố, đàn áp đồng bào ta một cách độc ác, dã man… Trong lúc đang loay hoay chưa tìm được phương thức đấu tranh thích hợp thì khoảng cuối năm 1957, chúng tôi nhận được bản Đề cương cách mạng miền Nam do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo, từ phía các tỉnh cực nam của Liên khu 5 chuyển ra. Chúng tôi coi đó như một cái “cẩm nang” để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng miền Nam tiến lên trong thời kỳ gay go ác liệt lúc bấy giờ. Đầu năm 1958, chúng tôi quyết định triệu tập Hội nghị Khu ủy mở rộng tại làng Trao, thuộc miền Tây Quảng Nam và vạch ra phương hướng chuyển phong trào cách mạng các tỉnh Khu 5 lên một bước mới.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn