Đồng chí Lê Duẩn với việc hoạch định đường lối cách mạng XHCN ở Việt Nam
Từ năm 1946 đến năm 1954, đồng chí Lê Duẩn với cương vị Bí thư Xứ uỷ, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam đã lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Sau khi ký kết Hiệp nghị Giơnevơ, đồng chí ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng, củng cố cơ sở cách mạng và chuẩn bị cho cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, từ năm 1957 đồng chí Lê Duẩn được Trung ương Đảng điều động ra miền Bắc, tham gia lãnh đạo công việc chung của Đảng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ thời điểm lịch sử này đồng chí Lê Duẩn có điều kiện cùng Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Bác Hồ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng miền Nam, chống Mỹ cứu nước và công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đồng chí đã giành trí tuệ và tâm huyết cho việc hoạch định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ 1954 với đặc điểm to nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản và trong hoàn cảnh Đảng phải lãnh đạo thực hiện đồng thời 2 chiến lược cách mạng: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam tiến tới thống nhất đất nước. Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa được hoạch định không thể tách rời đặc điểm và hoàn cảnh đó. Mặt khác, phe xã hội chủ nghĩa đã được hình thành và phát triển. Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân các nước đã họp năm 1957 và năm 1960 trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin đã bước đầu tổng kết những thành quả và kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, nêu ra những vấn đề có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước. Điều đó đã được đồng chí Lê Duẩn nghiên cứu để vận dụng vào hoàn cảnh của Việt Nam.

Đồng chí Lê Duẩn thăm cánh đồng 10 tấn tại xã Vinh Quan, Thái Bình, ngày 9-6-1968. (Ảnh tư liệu)
Việc hình thành quan điểm chỉ đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã được đặt ra từ các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II nhất là từ Hội nghị Trung ương 14 (11-1958) và Hội nghị Trung ương 16 (mở rộng) tháng 4-1959 với chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, khẳng định “ở miền Bắc, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã chuyển sang cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”(1).

Đồng chí Lê Duẩn thăm nhân dân đảo Cô Tô, Quảng Ninh, tháng 6-1977. (Ảnh tư liệu)
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa được xác định về căn bản tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960). Trong Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội, đồng chí Lê Duẩn nêu rõ: “Việc hoàn thành hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên miền Bắc nước ta là một thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam. Nó mở đường cho cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn mới”(2). Hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ là độc lập dân tộc và Người cày có ruộng. Đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh từ sáu năm nay (từ 1954) nước ta đã chuyển vào giai đoạn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Từ sự phân tích những đặc điểm của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng chí Lê Duẩn đã nêu rõ: “Sau khi nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, thì miền Bắc nước ta cần phải tiến ngay vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, và có đủ điều kiện để bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội; công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc phải là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt nhằm đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến lên chế độ sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu, xây dựng thành một nền kinh tế cân đối và hiện đại, làm cho miền Bắc tiến bộ mau chóng thành cơ sở ngày càng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà”(3).

Đồng chí Lê Duẩn thăm Nhà máy Dệt 8-3 Hà Nội, tháng 7-1971. (Ảnh tư liệu)
Đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội là đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước của toàn dân tộc, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân. “Muốn đạt mục tiêu ấy phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật; biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học tiến tiến”(4).
Với trọng trách Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III đồng chí Lê Duẩn đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị tiếp tục cụ thể hoá, phát triển đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội III đề ra và hiện thực hoá đường lối đó ở miền Bắc. Các cuộc vận động lớn của Đảng do Bộ Chính trị đề ra: cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu (gọi tắt là cuộc vận động 3 xây, 3 chống) tháng 4-1962 và tháng 7-1963; cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc (2-1963) và cuộc vận động phát triển kinh tế, văn hoá miền núi. Đặc biệt, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III (12-1964) đã ra Nghị quyết về thương nghiệp và giá cả. Tại hội nghị, đồng chí Lê Duẩn đã có bài phát biểu quan trọng làm rõ hơn nội dung đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng chí Lê Duẩn nêu rõ: “Quy luật cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta là dựa trên sức mạnh của chính quyền nhân dân do giai cấp vô sản lãnh đạo, làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản. Thực hiện sự liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với quần chúng cơ bản trong nông dân và các tầng lớp khác để tiến hành ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về kỹ thuật và cách mạng tư tưởng và văn hoá, phát triển nền kinh tế quốc dân một cách có kế hoạch”(5). Ba cuộc cách mạng là ba bộ phân cấu thành của cách mạng xã hội chủ nghĩa và phải tiến hành trong cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khoá III khẳng định 3 cuộc cách mạng phải được tiến hành đồng thời không thể xem nhẹ mặt nào, song phải tập trung sức đẩy mạnh Cách mạng kỹ thuật là then chốt. Hội nghị nhấn mạnh việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; quan hệ giữa 3 cuộc cách mạng, quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, quan hệ giữa sản xuất và lưu thông, phân phối, quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, coi trọng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân; quan hệ giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng. Hội nghị Trung ương 10 làm rõ khái niệm thị trường xã hội chủ nghĩa, coi trọng phát triển sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa; coi trọng thị trường trong nước và giao lưu hàng hoá với nước ngoài. Đồng chí Lê Duẩn đã có những đóng góp quan trọng tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khoá III về phát triển nhận thức lý luận và thực tiễn về quy luật và nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đồng chí Lê Duẩn thăm Triển lãm một số mặt hàng công nghiệp và thủ công nghiệp Hà Nội, ngày 17-2-1972. (Ảnh tư liệu)
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa đó đã được thể nghiệm trong thực tiễn và mang lại những thành tựu đáng kể về kinh tế chính trị, văn hoá, xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tăng cường sức mạnh về mọi mặt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Thắng lợi to lớn của kế hoạch 5 năm (1961-1965), những tìm tòi, cải tiến qua các cuộc vận động lớn những năm đầu thập niên 60 đã có được những kinh nghiệm quan trọng từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ác liệt thể nghiệm tính đúng đắn không chỉ của đường lối chiến tranh cách mạng mà cả chủ trương đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng đã đề ra và thực hiện.

Đồng chí Lê Duẩn đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 2-2-1980. (Ảnh tư liệu)
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2-9-1969) đồng chí Lê Duẩn với trách nhiệm là người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã cùng Trung ương và Bộ Chính trị tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng và đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiếp tục phát triển đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa. Năm 1970, kỷ niệm 40 năm thành lập Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã viết tác phẩm Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới, bước đầu tổng kết những vấn đề lý luận, thực tiễn của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đồng chí Lê Duẩn đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1980. (Ảnh tư liệu)
Về cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng chí Lê Duẩn đã trình bày một cách có hệ thống về chuyên chính vô sản và ba cuộc cách mạng. Khẳng định quy luật tất yếu phải phát triển theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. “Sự kết thúc thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng có nghĩa là sự mở đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa”(6). Đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: “đấu tranh giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta chủ yếu là đấu tranh đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; nắm vững chuyên chính vô sản để tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng kỹ thuật là then chốt, là nội dung cơ bản của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta”(7). Đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “ra sức tăng cường chuyên chính vô sản, phát huy cao độ vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tổ chức và quản lý của Nhà nước và tinh thần làm chủ tập thể của quần chúng lao động nhằm thực hiện thắng lợi ba cuộc cách mạng trong đó cách mạng kỹ thuật là then chốt, là phương hướng cơ bản có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, là nội dung tất yếu của việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ở nước ta”(8). Đồng chí cũng phân tích và nêu rõ đường lối phát triển kinh tế trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ. Khái niệm bước đi ban đầu đã được làm rõ với nhiệm vụ cơ bản là tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá và cải thiện đời sống của nhân dân. Các mối quan hệ được đặt ra và xử lý khi nhận thức sự cần thiết phải ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đẩy mạnh công nghiệp nhẹ, ra sức phát triển nông nghiệp, xây dựng kinh tế trung ương đồng thời phát triển kinh tế địa phương, cải tiến chế độ quản lý kinh tế.



