Đồng chí Lê Đức Thọ – Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng, nhà ngoại giao xuất sắc
Đồng chí Lê Đức Thọ – Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng, nhà ngoại giao xuất sắc

ĐỒNG CHÍ LÊ ĐỨC THỌ – NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG, NHÀ NGOẠI GIAO XUẤT SẮC
Đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải, sinh ngày 10-10-1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc (sau này là xã Nam Vân, huyện Nam Trực), tỉnh Nam Định; nay thuộc thành phố Nam Định. Đồng chí sinh trưởng trong một gia đình nhà nho khá giả thời bấy giờ.
Cha đồng chí là cụ Phan Đình Quế, một nhà nho mất sớm; mẹ là cụ Đinh Thị Hoàng, một cơ sở cách mạng tin cậy của các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Văn Linh, Bùi Lâm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau này, cụ được Nhà nước trao tặng Bằng có công với nước. Đồng chí Lê Đức Thọ có hai người em trai cũng là những cán bộ cách mạng nổi tiếng, đó là Thượng tướng Đinh Đức Thiện (tức Phan Đình Dinh) và Đại tướng Mai Chí Thọ (tức Phan Đình Đống).
Đầu năm 1924, khi mới 14 tuổi, Phan Đình Khải được gia đình cho lên thành phố Nam Định học tại Trường tiểu học Juile Ferry, tức Trường tiểu học Cửa Bắc. Nam Định khi đó là thành phố công nghiệp dệt may lớn nhất cả nước, đồng thời là một trong những cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, nơi có phong trào yêu nước và cách mạng phát triển mạnh mẽ.
Năm 1925, sau khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập tại Quảng Châu (Trung Quốc), tổ chức này nhanh chóng xây dựng cơ sở tại Nam Định. Trong môi trường đó, năm 1926, Phan Đình Khải bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước, cách mạng; được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, hoạt động trong Học sinh hội tại Trường Cửa Bắc và Trường tiểu học Avernin.
SỚM GIÁC NGỘ LÝ TƯỞNG, KIÊN CƯỜNG TRONG LAO TÙ, THỬ THÁCH
Tháng 10-1929, dưới sự dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu của người thầy Nguyễn Văn Tiến, Phan Đình Khải được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng và trở thành Bí thư Chi bộ học sinh Trường tiểu học tư thục Avernin.
Năm 1930, đồng chí trở về quê Địch Lễ tuyên truyền, vận động thanh niên và những người thân như Đinh Đức Thiện (Phan Văn Dinh), Phan Đình Tạc, Phan Đình Thiều, Ngô Văn Ngoạn tham gia cách mạng, tiến tới kết nạp Đảng và thành lập chi bộ Đảng tại địa phương.
Đêm ngày 6, rạng sáng ngày 7-11-1930, nhân kỷ niệm 13 năm Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Nam Định tổ chức cho các chi bộ nhà máy, trường học, đường phố rải truyền đơn, treo cờ Đảng và tiến hành nhiều hoạt động nhằm khuếch trương thanh thế của Đảng. Trước hoạt động mạnh mẽ của phong trào cách mạng, chính quyền thực dân tiến hành chiến dịch đàn áp khốc liệt, bắt 54 cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng. Trong số đó có đồng chí Lê Đức Thọ, khi ấy mới 19 tuổi và có một năm tuổi Đảng.
Ngày 27-1-1931, chính quyền thực dân đưa những người bị bắt ra xét xử tại Tòa án tỉnh Nam Định và kết án đồng chí tù khổ sai chung thân. Đồng chí làm đơn kháng án, sau đó bị giải lên Hà Nội xét xử tại Tòa Thượng thẩm và bị kết án 10 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo giữa năm 1931.
Tại “địa ngục trần gian” Côn Đảo, đồng chí có dịp gặp gỡ, sát cánh chiến đấu cùng nhiều nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam như Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Duy Trinh... Dù tuổi đời còn trẻ, đồng chí được bầu làm Bí thư Chi bộ và Thường vụ Chi ủy nhà tù, trực tiếp tổ chức các cuộc đấu tranh của tù nhân, tổ chức học tập chủ nghĩa cộng sản do Giáo sư đỏ Trần Văn Giàu giảng dạy.
Trong hơn 5 năm bị giam cầm tại Côn Đảo, đồng chí cùng Chi ủy nhà tù quyết định tổ chức vượt ngục, đưa các đồng chí đảng viên cộng sản trở về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng. Riêng chuyến vượt ngục của đồng chí Ngô Gia Tự, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, cùng một số đồng chí khác vào cuối năm 1934 đã bị mất tích trên biển.
Tháng 6-1936, Chính phủ cánh tả của Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền và tuyên bố ân xá tù chính trị tại các thuộc địa. Trong bốn tháng cuối năm 1936, hơn 500 tù chính trị tại Côn Đảo, trong đó một nửa là những người cộng sản, được trả tự do; đồng chí Lê Đức Thọ là một trong số đó.
TRỞ LẠI HOẠT ĐỘNG, GÓP PHẦN XÂY DỰNG TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ BẢO VỆ TRUNG ƯƠNG
Cuối năm 1936, trở về Nam Định trong điều kiện vẫn bị chính quyền quản thúc, đồng chí Lê Đức Thọ nhanh chóng bắt liên lạc với tổ chức Đảng và tiếp tục hoạt động cách mạng. Đồng chí được phân công phụ trách công tác báo chí công khai của Đảng tại Nam Định, đồng thời tham gia xây dựng các cơ sở bí mật và công khai của Đảng bộ tỉnh.
Trong thời gian này, đồng chí viết cuốn Nhật ký tuyệt thực chín ngày rưỡi. Tác phẩm được xuất bản công khai cùng với cuốn Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình, trở thành những tài liệu được phát hành rộng rãi tại thành phố Nam Định. Đồng chí trực tiếp phụ trách đại lý phát hành sách báo công khai của Đảng mang tên Phan Khải, sau đổi thành Tin Tức, đặt tại số 2 phố Nhà Thờ, thành phố Nam Định.
Ngày 9-9-1939, cũng tại địa chỉ này, đồng chí bị mật thám bắt lần thứ hai, bị kết án 5 năm tù và giam tại Nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Đầu năm 1940, đồng chí bị đày lên Sơn La, được bầu làm Chi ủy viên Chi bộ nhà tù và cùng đồng chí Tô Hiệu lãnh đạo các cuộc đấu tranh trong lao tù.
Đầu năm 1943, đồng chí bị địch chuyển từ Nhà tù Sơn La về giam tại Nhà tù Hòa Bình. Tháng 9-1944, sau khi được trả tự do, đồng chí được ông Mười Hương đón về gặp Thường vụ Trung ương gồm Tổng Bí thư Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt tại An toàn khu Trung ương ở ngoại thành Hà Nội.
Từ đây, do yêu cầu của công tác bí mật, đồng chí đổi tên Phan Đình Khải thành Lê Đức Thọ. Thường vụ Trung ương giao đồng chí phụ trách công tác tổ chức, huấn luyện cán bộ; đồng thời tham gia Đội công tác cùng các đồng chí Trần Độ, Trần Cư, Trần Quốc Hương thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt, trong đó có công tác bảo đảm bí mật, an toàn cho An toàn khu Trung ương.
Tháng 10-1944, đồng chí Lê Đức Thọ được chỉ định tham gia Ban Chấp hành Trung ương, phụ trách công tác tổ chức - đảng vụ, huấn luyện cán bộ và bảo vệ Trung ương, xây dựng các An toàn khu của Trung ương, đồng thời trực tiếp phụ trách Xứ ủy Bắc Kỳ.
CÙNG TOÀN ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC
Trong hai ngày 14 và 15-8-1945, tại Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa và kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương. Tại Hội nghị, đồng chí Lê Đức Thọ được chỉ định vào Ban Thường vụ Trung ương.
Sau khi Hà Nội giành chính quyền trong Tổng khởi nghĩa ngày 19-8-1945, ngày 21-8-1945, đồng chí Lê Đức Thọ cùng Thường vụ Trung ương có mặt tại nội thành Hà Nội để chuẩn bị đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và chuẩn bị cho cuộc mít tinh lớn ra mắt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam độc lập.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương phân công phụ trách công tác tổ chức của Đảng, đào tạo và huấn luyện cán bộ.
Trong năm 1946, trên cương vị phụ trách công tác tổ chức của Đảng, đồng chí cùng Thường vụ Trung ương Đảng thành lập Trung ương Quân ủy, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội đến cấp tiểu đoàn, do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Tổng Quân ủy. Đồng chí cũng tổ chức một số lớp huấn luyện cán bộ của Trung ương và trực tiếp giảng dạy về công tác tổ chức, xây dựng Đảng.
Trong bối cảnh chính quyền cách mạng còn non trẻ, phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách và sự chống phá của các thế lực thù địch, Trung ương không thể họp đầy đủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương đã tổ chức các cuộc họp, gửi thư cho Xứ ủy Nam Bộ và ban hành nhiều chỉ thị quan trọng để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đặc biệt, trong hai ngày 18 và 19-12-1946, đồng chí Lê Đức Thọ tham dự cuộc họp của Thường vụ Trung ương tại Vạn Phúc, Hà Đông do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động Toàn quốc kháng chiến. Sau Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, còn Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến.
TĂNG CƯỜNG CHI VIỆN CHO NAM BỘ, SÁT CÁNH CÙNG CÁCH MẠNG MIỀN NAM
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng ngày 16 và 17-6-1947 về việc chuẩn bị phái đoàn gồm đại biểu quân sự, hành chính và đoàn thể vào Nam Bộ, Nam Trung Bộ, giữa tháng 9-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng cử một phái đoàn lớn gồm 30 cán bộ của Trung ương Đảng, Chính phủ và quân đội vào kiểm tra, chi viện cho chiến trường Nam Bộ.
Đoàn do đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Thường vụ Trung ương, làm Trưởng đoàn. Thành phần đoàn có bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Thứ trưởng Phủ Thủ tướng, Trưởng phái đoàn Chính phủ; đồng chí Dương Quốc Chính (Thiếu tướng Lê Hiến Mai), Trưởng phái đoàn của Bộ Tổng chỉ huy.
Đoàn mang theo nhiều tài liệu của Trung ương, tiền Đông Dương và vàng Trung ương chi viện cho Nam Bộ. Trên hành trình từ Việt Bắc vào Nam Bộ, đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Trung ương làm việc với Khu ủy 3, Khu ủy 4, Khu ủy 5 và một số Tỉnh ủy. Tại Thanh Hóa, đồng chí tổ chức lễ thụ phong quân hàm Thiếu tướng cho Tư lệnh Quân khu 4 và trao danh thiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một thông điệp gửi Thiếu tướng Nguyễn Sơn.
Sau bốn tháng hành quân đầy gian khổ, đầu năm 1949, phái đoàn đến Đồng Tháp Mười, căn cứ kháng chiến của Xứ ủy Nam Bộ. Tháng 4-1949, Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Bộ tổ chức cuộc mít tinh lớn chính thức đón phái đoàn Trung ương. Tại cuộc mít tinh, đồng chí Lê Đức Thọ công bố sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh trao quân hàm Trung tướng cho đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Bộ đội Nam Bộ.
Theo đề nghị của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương đồng ý, đồng chí Lê Đức Thọ cùng toàn bộ phái đoàn Trung ương ở lại Nam Bộ công tác. Cuối năm 1949, đồng chí được bổ sung làm Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, trực tiếp phụ trách Ban Tổ chức - Kiểm tra - Dân vận Xứ ủy, sát cánh cùng đồng chí Lê Duẩn lãnh đạo cách mạng miền Nam cho đến khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc.
Tháng 2-1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, tháng 3-1951, đồng chí được chỉ định là thành viên Trung ương Cục miền Nam.
Tháng 6-1951, Trung ương Cục miền Nam được thành lập, đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm Bí thư, đồng chí Lê Đức Thọ làm Phó Bí thư. Tháng 5-1952, khi đồng chí Lê Duẩn ra Việt Bắc nhận nhiệm vụ, đồng chí Lê Đức Thọ chính thức đảm nhiệm cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, trực tiếp phụ trách công tác Đảng vụ.
ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG TRONG CÔNG TÁC TỔ CHỨC, XÂY DỰNG ĐẢNG
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ ngày 20-7-1954, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Đồng chí Lê Đức Thọ, khi đó là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, được điều động ra Hà Nội.
Sau khi cùng đồng chí Lê Duẩn sắp xếp tổ chức, phân công cán bộ đi tập kết và những người ở lại tiếp tục hoạt động bí mật, đầu năm 1955, đồng chí Lê Đức Thọ lên đường trở lại miền Bắc và được Bộ Chính trị phân công làm Trưởng ban Thống nhất Trung ương.
Ngày 14-6-1955, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định thành lập Ban Quan hệ Bắc - Nam để thực hiện Hiệp định Giơnevơ; về mặt nội bộ Đảng gọi là Ban miền Nam, do đồng chí Lê Đức Thọ làm Trưởng ban. Cuối năm 1955, đồng chí được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị.
Từ giữa năm 1956, khi Đảng phát hiện những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đồng chí Lê Đức Thọ được phân công phụ trách công tác sửa sai. Cuối năm 1956, đồng chí được Bộ Chính trị phân công làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương thay đồng chí Lê Văn Lương. Từ tháng 11-1956, đồng chí kiêm nhiệm chức Hiệu trưởng Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương cho đến năm 1961.
Cũng trong giai đoạn này, đồng chí đã đề xuất với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị việc điều động đồng chí Lê Duẩn ra Bắc để chuẩn bị đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư.
Đầu tháng 9-1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tiếp tục được phân công làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Năm 1966, đồng chí một lần nữa kiêm nhiệm chức Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương.
TRÊN CƯƠNG VỊ LÃNH ĐẠO, GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Để chuẩn bị cho cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa dự kiến diễn ra vào mùa Xuân năm 1968, năm 1967, Bộ Chính trị thành lập một tổ công tác gồm 5 Ủy viên Bộ Chính trị, trong đó có đồng chí Lê Đức Thọ, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương về đường lối cách mạng Việt Nam. Cùng thời gian này, đồng chí được chỉ định tham gia Quân ủy Trung ương.
Tháng 10-1967, đồng chí Lê Đức Thọ được giao làm Trưởng ban Chuyên án đặc biệt “Phá tổ chức chống Đảng, làm tình báo cho nước ngoài”, bắt nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và quân đội ở Hà Nội.
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, đồng chí được Bộ Chính trị cử vào làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, cùng đồng chí Phạm Hùng, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam lãnh đạo các cuộc tổng tiến công tiếp theo trong năm 1968.
NHÀ NGOẠI GIAO KIÊN ĐỊNH TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN PARI
Trước những đòn tiến công mạnh mẽ của quân và dân miền Nam, thông qua nhiều kênh ngoại giao, phía Mỹ ngỏ ý với Chính phủ Việt Nam về việc đàm phán hòa bình nhằm tìm lối thoát khỏi cuộc chiến tranh.
Ngày 22-4-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị sau nhiều tháng chữa bệnh tại Trung Quốc trở về nước. Người đề nghị Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Lê Đức Thọ, khi đó đang ở chiến trường miền Nam, trở về Hà Nội để lãnh đạo hai đoàn đàm phán của ta tại Paris.
Ngày 30-5-1968, đồng chí Lê Đức Thọ rời Hà Nội đi Paris qua Matxcơva, trực tiếp đàm phán với Henry Kissinger, đại diện Chính phủ Mỹ, nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam.
Qua gần 5 năm đàm phán bí mật và công khai, ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, tạo bước ngoặt quan trọng, mở đường cho thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên từng đánh giá đồng chí Lê Đức Thọ là “nhà ngoại giao khổng lồ”. Cũng trong năm 1973, đồng chí đã từ chối nhận giải thưởng Nobel Hòa bình.
Sau khi Hội nghị Paris kết thúc, đồng chí được Bộ Chính trị phân công làm Trưởng ban miền Nam của Đảng, tiếp tục nỗ lực cùng Bộ Chính trị thực hiện quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
GÓP PHẦN QUYẾT ĐỊNH VÀO THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH
Ngày 10-3-1975, ta mở màn Chiến dịch Tây Nguyên bằng đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột, giải phóng thị xã then chốt này, làm cho Quân đoàn 2 và Quân khu 2 của địch sụp đổ. Tiếp đó, ngày 21-3, ta mở Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, đánh tan Quân đoàn 1 và Quân khu 1 của địch; cùng với thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng hoàn toàn các tỉnh duyên hải miền Trung trong tháng 3-1975.
Ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị họp và quyết định “Giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa”. Sau cuộc họp quan trọng này, được sự đồng ý của đồng chí Lê Duẩn, ngày 28-3-1975, đồng chí Lê Đức Thọ lên đường vào chiến trường.
Trong cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm (1945-1975), đây là lần thứ ba đồng chí Lê Đức Thọ vào Nam Bộ để cùng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chiến trường thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng miền Nam trong thời gian sớm nhất.
Chiều ngày 7-4-1975, đồng chí có mặt tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam ở Bắc Tây Ninh. Sáng ngày 8-4-1975, tại cuộc họp của Đoàn Bộ Tổng tư lệnh (Đoàn A75) với Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, đồng chí Lê Đức Thọ phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 25-3 và quyết định thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định do Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy.
Ngày 30-4-1975, với ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình, năm cánh quân đồng loạt tiến vào nội đô, hội tụ tại Sài Gòn lúc 11 giờ 30 phút, kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm, hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước.
Ngay trong ngày Sài Gòn được giải phóng, đồng chí Lê Đức Thọ cùng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chiến trường đã có mặt tại thành phố vừa im tiếng súng. Giữa tháng 5-1975, tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị tổng kết chiến dịch. Bên cạnh báo cáo tổng kết do Đại tướng Văn Tiến Dũng trình bày, đồng chí Lê Đức Thọ là diễn giả chính của hội nghị.
TIẾP TỤC CỐNG HIẾN CHO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, đồng chí Lê Đức Thọ được phân công làm Phó ban đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ ở miền Nam.
Tháng 12-1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí thay mặt Bộ Chính trị đọc Báo cáo Tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng. Đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tiếp tục được phân công làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
Từ giữa năm 1977 đến tháng 1-1979, đồng chí được Bộ Chính trị phân công phụ trách công tác đặc biệt, theo dõi tình hình biên giới phía Tây Nam và giúp cách mạng Campuchia.
Đầu tháng 11-1978, thay mặt Bộ Chính trị, tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí tiếp các đại biểu của những người Campuchia nổi dậy chống lại chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Cuối tháng 11-1978, Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia ra đời. Ngày 7-1-1979, khi chế độ Khmer đỏ sụp đổ, đồng chí đã có mặt tại Phnôm Pênh để chỉ đạo công tác giúp bạn.
Ngày 24-8-1979, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ban phụ trách công tác K gồm bốn đồng chí: Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh, Nguyễn Côn và Hoàng Thế Thiện, do đồng chí Lê Đức Thọ làm Trưởng ban.
Tháng 1-1980, đồng chí được Bộ Chính trị phân công làm Thường trực Ban Bí thư, phụ trách công tác tổ chức, tuyên huấn và nội chính. Tháng 10-1980, đồng chí được cử làm Hiệu trưởng Trường Chính trị đặc biệt, đào tạo cán bộ cho bạn. Tháng 12-1980, đồng chí thôi chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương để tập trung thực hiện nhiệm vụ Thường trực Ban Bí thư.
Cuối tháng 3-1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí trình bày Báo cáo Xây dựng Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Ngày 24-4-1982, Bộ Chính trị họp phân công công tác các đồng chí trong Bộ Chính trị. Theo đó, đồng chí Lê Đức Thọ thôi làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương và Trưởng đoàn chuyên gia giúp Campuchia, giúp đồng chí Lê Duẩn chủ trì công tác của Ban Bí thư, phụ trách công tác tư tưởng và đối ngoại. Năm 1983, đồng chí được chỉ định làm Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Đảng.
Năm 1986, đồng chí được Bộ Chính trị phân công làm Tiểu ban Nhân sự Đại hội VI. Tháng 12-1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, đồng chí Lê Đức Thọ cùng các đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Trung ương để chuyển giao nhiệm vụ cho thế hệ sau. Đồng chí được Đại hội long trọng tuyên dương công trạng và cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương.
TẤM GƯƠNG NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG SẢN TRỌN ĐỜI VÌ ĐẢNG, VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN
Ngày 13-10-1990, do mắc bệnh hiểm nghèo, đồng chí Lê Đức Thọ qua đời, hưởng thọ 79 tuổi, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.
Với 79 tuổi đời, 61 năm tuổi Đảng và 64 năm hoạt động cách mạng cho đến hơi thở cuối cùng, đồng chí Lê Đức Thọ là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một nhà lãnh đạo tài năng, suốt đời tận tụy vì Tổ quốc và nhân dân.
Đồng chí là một trong những người lãnh đạo chủ yếu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, có những đóng góp lớn đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; là nhà ngoại giao kiên định, xuất sắc, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của Đảng. Xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí chủ yếu làm công tác tổ chức, xây dựng Đảng và có những đóng góp lớn đối với công tác xây dựng Đảng ta.
Trong Lời điếu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đọc tại tang lễ đồng chí ngày 17-10-1990, đồng chí Lê Đức Thọ được đánh giá là tấm gương về lòng trung thành, tận tụy với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; có tinh thần cách mạng dũng cảm, kiên cường, bất khuất; đức tính cần, kiệm, liêm, chính và tình thương đối với cán bộ, được toàn Đảng, toàn dân yêu mến, kính trọng.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Đức Thọ là một hành trình đầy gian nan, thử thách nhưng cũng hết sức vẻ vang. Từ một người thanh niên sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, đồng chí đã không ngừng rèn luyện, trưởng thành qua đấu tranh, qua những năm tháng tù đày và trên nhiều cương vị công tác khác nhau.
Tấm gương kiên trung, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy của đồng chí Lê Đức Thọ là một phần quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng và dân tộc. Những đóng góp của đồng chí trong công tác tổ chức, xây dựng Đảng, lãnh đạo cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã để lại những dấu ấn sâu sắc, góp phần làm nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam.



