Bài viết

Đồng Chí Lê Đức Thọ: Nhà Lãnh Đạo Tiền Bối Kiệt Xuất, Nhà Chiến Lược Mưu Trí Trên Mặt Trận Ngoại Giao Và Xây Dựng Đảng

Vĩnh Long09/08/2026Đoàn xã Bảo Lâm 4 (Bảo Lâm 4)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đồng Chí Lê Đức Thọ: Nhà Lãnh Đạo Tiền Bối Kiệt Xuất, Nhà Chiến Lược Mưu Trí Trên Mặt Trận Ngoại Giao Và Xây Dựng Đảng

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, đồng chí Lê Đức Thọ nổi lên như một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhà lãnh đạo tiền bối kiệt xuất của Đảng và Nhà nước. Ông không chỉ là một nhà tổ chức tài ba, kiên trung trên mặt trận chính trị - quân sự mà còn là một nhà đàm phán lỗi lạc, người đã ghi dấu ấn đậm nét trong thắng lợi lịch sử của ngoại giao Việt Nam trên bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Đồng chí Lê Đức Thọ (tên khai sinh là Phan Đình Khải) sinh ngày 10 tháng 10 năm 1911 tại xã Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc phường Nam Vân, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định).

Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước và hiếu học. Trưởng thành trên vùng đất Nam Định – một trong những nôi của phong trào công nhân và cách mạng miền Bắc – chứng kiến cảnh nhân dân bị áp bức, bóc lột dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, ông đã sớm hình thành tinh thần yêu nước và chí khí cách mạng kiên cường từ khi còn rất trẻ.

Năm 1926, khi mới 15 tuổi, ông đã tham gia phong trào bãi khóa của học sinh Nam Định nhân lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Năm 1929, ông vinh dự được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng và trở thành một trong những đảng viên thế hệ đầu tiên của Đảng ta.

Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giam, kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo. Trong "trường học ngục tù", ông vẫn giữ vững khí tiết kiên trung của người cộng sản. Sau khi ra tù năm 1936, ông tiếp tục hoạt động bí mật và tái thiết phong trào cách mạng tại Nam Định, Hà Nội và xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1944, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông được Đảng tin tưởng phân công vào Nam Bộ làm Phó Bí thư Xứ ủy, sau đó là Trưởng Ban Dân vận Xứ ủy Nam Bộ, góp phần quan trọng vào việc tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đảm nhiệm trọng trách Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, trực tiếp tham gia chỉ đạo chiến trường và củng cố bộ máy tổ chức của Đảng.

Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Lê Đức Thọ gắn liền với những mốc lịch sử trọng đại của Đảng và dân tộc trên nhiều lĩnh vực:

Trên mặt trận Ngoại giao và Đàm phán Hiệp định Paris: Năm 1968, ông được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh cử làm Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris. Trong suốt gần 5 năm (1968 – 1973) đấu trí cam go với các đại diện của chính quyền Mỹ – đặc biệt là Cố vấn An ninh Quốc gia Henry Kissinger – ông đã thể hiện tư duy ngoại giao sắc bén, bản lĩnh kiên cường, "vừa đánh vừa đàm", buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris năm 1973, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước, tạo thế và lực quyết định cho Đại thắng Mùa Xuân 1975.

Trên mặt trận Quân sự và Chỉ đạo Chiến dịch: Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông được Bộ Chính trị cử vào miền Nam tham gia Bộ Chỉ huy Chiến dịch, cùng với các đồng chí lãnh đạo khác trực tiếp chỉ đạo lực lượng vũ trang tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước.

Trên công tác Xây dựng Đảng: Với nhiều năm đảm nhiệm cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, ông đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức Đảng, đào tạo và rèn luyện đội ngũ cán bộ, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ và kỷ luật của Đảng.

Trên bàn đàm phán Paris gay go và kịch tính, khi đối diện với sức ép và thế lực của một siêu cường, Cố vấn Đặc biệt Lê Đức Thọ đã đanh thép khẳng định nguyên tắc bất biến của nhân dân Việt Nam:

"Mỹ có sức mạnh quân sự của Mỹ, nhưng nhân dân Việt Nam có sức mạnh của chính nghĩa, có lòng yêu nước và chí khí kiên cường. Các ông không thể dùng sức mạnh đe dọa được nhân dân chúng tôi."

(Nguồn: Hồi ký "Những năm tháng đàm phán Hiệp định Paris" - NXB Chính trị quốc gia Sự thật)

Đánh giá về tư cách và tài năng của ông trên bàn đàm phán, chính đối thủ Henry Kissinger (Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ) sau này đã viết trong hồi ký:

"Lê Đức Thọ là người đàm phán kiên cường, sắc sảo và kiêu hãnh nhất mà tôi từng gặp... Ông ấy đối xử với tôi bằng sự lịch thiệp nhưng không bao giờ nhượng bộ bất kỳ điều gì ảnh hưởng đến lợi ích cốt lõi của đất nước ông."

(Nguồn: Hồi ký "White House Years" - Henry Kissinger)

Nói về phẩm chất và cống hiến của ông đối với Đảng, Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Lễ truy điệu đồng chí Lê Đức Thọ đã khẳng định:

"Đồng chí Lê Đức Thọ là một nhà lãnh đạo tiền bối kiệt xuất của Đảng, một nhà tổ chức tài ba, một nhà ngoại giao xuất sắc, người chiến sĩ cộng sản kiên trung trọn đời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc."

(Nguồn: Báo Nhân Dân, tháng 10/1990)

Đồng chí Lê Đức Thọ là hình mẫu tiêu biểu của một nhà chiến lược mưu trí và quyết đoán. Ông sở hữu tư duy lý luận sâu sắc kết hợp với thực tiễn phong phú, năng lực tổ chức cán bộ vượt trội và nghệ thuật đàm phán ngoại giao tài tình.

Một nét nổi bật đặc biệt thể hiện phẩm chất đạo đức trong sáng và lòng tự trọng cao cả của ông: Năm 1973, Ủy ban Nobel đã quyết định trao Giải Nobel Hòa bình cho ông cùng Henry Kissinger vì những đóng góp trong việc đàm phán Hiệp định Paris. Tuy nhiên, ông đã từ chối nhận giải thưởng này với lý do hòa bình thực sự vẫn chưa được lập lại trên đất nước Việt Nam khi quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục vi phạm hiệp định. Hành động này đã khiến cả thế giới nể phục bản lĩnh và sự chí công vô tư của người cộng sản Việt Nam.

Sau khi đất nước thống nhất, ông tiếp tục giữ các trọng trách Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông luôn trăn trở, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết cho công tác chỉnh đốn Đảng, phòng chống tiêu cực và công cuộc Đổi mới đất nước.

Đồng chí Lê Đức Thọ từ trần ngày 13 tháng 10 năm 1990 tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Ghi nhận những cống hiến đặc biệt to lớn của ông, Đảng và Nhà nước đã truy tặng, trao tặng ông những phần thưởng cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng cùng nhiều huân, huy chương cao quý khác.

Cuộc đời Oanh liệt và sự nghiệp phong phú của đồng chí Lê Đức Thọ là bài học vô giá về bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ ngoại giao và tinh thần kiên trung với lý tưởng cách mạng. Tấm gương từ chối giải thưởng cá nhân vì lợi ích chung của dân tộc và bản lĩnh kiên cường trước mọi sức ép ngoại giao là bài học sâu sắc cho thế hệ trẻ hôm nay – đặc biệt là đoàn viên, thanh niên – về lòng tự tôn dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ và trách nhiệm không ngừng rèn luyện tri thức, bản lĩnh để bảo vệ và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đồng Chí Lê Đức Thọ: Nhà Lãnh Đạo Tiền Bối Kiệt Xuất, Nhà Chiến Lược Mưu Trí Trên Mặt Trận Ngoại Giao Và Xây Dựng Đảng | Câu chuyện thời hoa lửa