Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đồng chí Lê Đức Thọ - Tấm gương người cộng sản kiên trung

Ninh Bình23/04/2026Nguyễn Tuấn Duy (xã Phong Doanh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Vân, thành phố Nam Định) trong một gia đình nho giáo có truyền thống yêu nước. Ngay từ tuổi thiếu 14, ông đã tích cực tham gia phong trào học sinh yêu nước, năm 1926 tham gia lễ truy điệu chí sĩ Phan Chu Trinh, và năm 1928 được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên khi mới 17 tuổi. Năm 1929, tròn 18 tuổi, ông chính thức gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng, được cử làm Bí thư Chi bộ học sinh và phụ trách công tác thanh niên học sinh quangngai baochinhphu.

Trong cuộc đời cách mạng, ông đã trải qua 11 năm bị giam cầm trong các lao tù khắc nghiệt của thực dân Pháp, từ Côn Đảo, Hỏa Lò Hà Nội, Sơn La đến Hòa Bình. Dù bị tra tấn dã man, đồng chí Lê Đức Thọ vẫn kiên cường giữ vững lý tưởng cách mạng, biến các nhà tù thành trường học cách mạng, cùng các bạn tù chính trị trui rèn ý chí và giữ gìn cơ sở tổ chức cách mạng. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm khổ sai và giam Côn Đảo, được ra tự do năm 1936. Sau khi ra tù, ông tiếp tục hoạt động tại cơ sở bí mật của Đảng và phụ trách công tác báo chí công khai, đến năm 1939 lại bị địch bắt giam thêm 5 năm baotanglichsuquocgia.

Vai trò chủ chốt trong các giai đoạn cách mạng

Đồng chí Lê Đức Thọ là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được tin tưởng giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong suốt cuộc đời cách mạng. Năm 1948, ông được cử lãnh đạo phái đoàn Đảng và Chính phủ vào Nam Bộ kiểm tra và tăng cường cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sau đó ở lại làm Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đóng góp lớn trong việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo Đảng ở miền Nam, làm cho hoạt động chỉ đạo của Đảng thống nhất, chặt chẽ và hiệu quả.

Sau chiến thắng kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đặc biệt là ở chiến trường Nam Bộ, được mệnh danh là "Thành đồng Tổ quốc". Năm 1968, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó vai trò cố vấn đặc biệt phái đoàn đàm phán Việt Nam tại Paris, cùng Henry Kissinger tiến hành đàm phán kéo dài hơn 4 năm, cuối cùng ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đối thủ Mỹ đã thừa nhận: "Nếu tôi có một chút hi vọng để lựa chọn, chắc chắn tôi sẽ chọn một người đối thoại dễ tính hơn Lê Đức Thọ". Ông đã được đề nghị tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1973 nhưng đã từ chối, vì khi đó nước nhà chưa được hòa bình và thống nhất.

Đóng góp vĩ đại cho công tác tổ chức xây dựng Đảng

Đồng chí Lê Đức Thọ được gọi là "kiến trúc sư" của ngành tổ chức xây dựng Đảng, với những đóng góp quan trọng suốt cả cuộc đời. Ông trực tiếp chỉ đạo công tác nghiên cứu, biên soạn dự thảo các văn kiện từ Đại hội III đến Đại hội VI của Đảng, xây dựng lý luận về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, củng cố hệ thống tổ chức và tăng cường đoàn kết nội bộ.

Ông luôn nhắc nhở cán bộ tổ chức phải giữ gìn phương châm "thận trọng, dân chủ", lắng nghe ý kiến cơ sở và tập thể, luôn trung thực, công tâm, khách quan khi chọn cán bộ, đặc biệt là tiêu chuẩn đức tài cho các cấp ủy. Ông đã xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng, chuẩn bị nhân sự cấp cao cho Đảng, đồng thời đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảm bảo sự vững vàng và tính kế thừa của Đảng trong mọi tình thế.

Đạo đức cách mạng và tấm gương người cộng sản kiên trung

Trong suốt 64 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Đức Thọ luôn thể hiện đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gần gũi với nhân dân và đồng sự. Ông luôn khiêm tốn, coi cuộc đời hoạt động của mình "thật nhỏ bé so với sự nghiệp vĩ đại của hàng triệu nhân dân", cho rằng "đời hoạt động của tôi so với sự nghiệp của nhân dân, sự nghiệp của cách mạng, thì có thể nói rằng, nó là một giọt nước trong biển cả".

Trước khi qua đời, ông đã căn dặn và gia đình thực hiện di nguyện hoàn trả ngôi nhà số 6 phố Nguyễn Cảnh Chân, nơi ông đã sống 34 năm cho Văn phòng Trung ương Đảng. Ông luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên hàng đầu, không bao giờ quan tâm đến lợi ích cá nhân, giữ vững lý tưởng cách mạng đến ngày cuối đời.

Đồng chí Lê Đức Thọ mất ngày 13/10/1990 tại Hà Nội, để lại di sản tinh thần vô giá cho thế hệ sau. Ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều danh hiệu cao quý khác, được cả dân tộc tôn vinh là một trong những người học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người cộng sản kiên trung, tận tụy với Tổ quốc và nhân dân.

Di sản của đồng chí Lê Đức Thọ cho thế hệ hiện nay

Tấm gương của đồng chí Lê Đức Thọ vẫn mãi sáng ngời cho các thế hệ học tập, với những bài học quý giá về lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, tinh thần kiên cường vượt qua khó khăn, đức tính liêm chính, chí công vô tư và sự gần gũi với nhân dân. Học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và những người học trò xuất sắc như đồng chí Lê Đức Thọ là trách nhiệm của mỗi người, để tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn