Đồng chí Lê Khả Phiêu trong ký ức người thân: Tình quê, nghĩa nước vẹn tròn
Đồng chí Lê Khả Phiêu trong ký ức người thân: Tình quê, nghĩa nước vẹn tròn
Hình ảnh người lính Cụ Hồ với tình yêu quê hương đất nước, nghĩa tình đồng đội sắt son và tình yêu thương gia đình vô bờ bến là giá trị quý giá mà bố tôi luôn gìn giữ suốt cuộc đời. Đó là chia sẻ từ đại diện gia đình - bà Lê Thị Thanh Hồng, khi kể về người cha của mình - Thượng tướng Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
Từ ký ức của bà Lê Thị Thanh Hồng, một phần cuộc đời của đồng chí Lê Khả Phiêu được kể lại không bằng những dấu mốc chức vụ, mà bằng tình cảm gia đình, bằng những tháng năm xa cách và nghĩa tình của một người lính đi qua chiến tranh – mang trong tim Tổ quốc, đồng đội, sống trọn một đời hy sinh và trách nhiệm.Đồng chí Lê Khả Phiêu tham gia cách mạng từ năm 16 tuổi, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1949, gia nhập Quân đội năm 1950. Gần như cả cuộc đời ông cống hiến hết mình sự nghiệp cách mạng của dân tộc, liên tục tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu ở các chiến trường Bắc, Trung, Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia.Bà Lê Thị Thanh Hồng chia sẻ: Gia đình tôi đã sống đúng một cuộc sống của gia đình người lính thời chiến tranh. Trong suốt thời gian các con còn nhỏ, bố đi chiến trường biền biệt. Ở nhà, mẹ một mình tần tảo vừa đi dạy học, vừa chăm sóc bà nội, nuôi dạy các con để bố yên tâm đi chiến đấu. Với chúng tôi khi ấy, hình ảnh của bố không phải là những bữa cơm sum họp, mà qua những câu chuyện mẹ kể, là những lá thư, những bức ảnh hiếm hoi gửi về từ chiến trường. Món quà bố gửi về cũng rất đặc biệt: Chiếc lược, khay nhôm làm từ vỏ máy bay, lọ hoa bằng catut đạn hay chiếc khăn từ mảnh dù nhặt được của lính nhảy dù… được mẹ tôi nâng niu, cất ở những nơi cao nhất trong nhà, dịp nào quan trọng lắm mới dám đem ra dùng.Tuổi thơ của bà Hồng gắn liền với những chuyến xe đưa bố rời nhà ra chiến trường.Bà kể: Hình ảnh ấy lặp đi lặp lại nhiều đến mức, dù còn rất nhỏ, tôi cũng lờ mờ hiểu rằng: Mỗi lần bố đi là một lần không biết có ngày trở về. Những chuyến xe chở theo dưa cà, mắm muối, gạo, dầu, vừng, lạc - tất cả những gì mẹ và tôi có thể gom góp được gửi gắm vào đó là nỗi lo và tình thương của hậu phương dành cho nơi tiền tuyến. Những chuyến xe phủ kín lá ngụy trang lặng lẽ rời bánh trong làn khói bụi. Không gian chợt lặng đi. Mẹ tôi đứng lặng nơi hiên nhà, một tay bế em út là Khánh còn đỏ hỏn, ánh mắt dõi theo về phía con đường bụi mờ. Trước mắt mẹ, cậu con trai Lê Minh Diễn khi đó mới 2 tuổi vẫn loạng choạng chạy theo bố, đôi tay nhỏ bé cứ với mãi trong vô vọng. Mẹ không gọi, cũng không chạy theo, chỉ đứng đó, ôm chặt đứa con trong lòng, mà tim như thắt lại. Nỗi đau không bật thành lời, chỉ lặng lẽ dâng lên nơi khóe mắt, rồi trào ra, ướt đẫm cả ánh nhìn. Bà con xung quanh có người quay mặt đi, có người cúi đầu, có người vội vã chạy theo bế em lại, nhưng chính giọng dỗ dành cũng run rẩy: “Nín đi con… bố đi rồi…”. Trên xe, bố ngoái lại. Ánh mắt bố chạm vào đứa con đang khóc nấc, siết chặt tay, quai hàm cứng lại. Những người lính ngồi cạnh cũng lặng im, nhưng trong đó vẫn cháy lên ý chí kiên cường và quyết tâm sắt đá: Ra đi để bảo vệ Tổ quốc, để giành lại nền độc lập cho nước nhà. Chiếc xe vẫn lặng lẽ lăn bánh. Tiếng khóc của đứa trẻ nhỏ dần, nhỏ dần… rồi chìm vào khoảng không, nhưng dư âm của nó thì còn ở lại, day dứt trong lòng tất cả những người chứng kiến.
Đồng chí Lê Khả Phiêu. Ảnh do gia đình cung cấpBố đi rồi, ở nhà chỉ còn lại bà, mẹ và mấy chị em chúng tôi. Ngôi nhà nhỏ bị bom đánh sập hai lần, vào năm 1967 và 1972. Những đồ đạc còn sót lại đều mang dấu tích chiến tranh: Cái tủ gỗ thủng cánh vì mảnh bom, cái nồi thủng vẫn cố dùng, cái chảo hỏng quai lắc lư. Mẹ phải dùng bùn ao, rơm rạ trát lại vách, tự tay dựng lại nhà để che mưa nắng cho các con. Tôi còn nhớ đêm 22-12-1972 ngôi nhà đang ở bị bom san phẳng. Rất may mẹ đã kịp chở 3 chị em chúng tôi bằng xe đạp đi sơ tán ở Thường Tín vào buổi trưa cùng ngày nên may mắn vẫn an toàn. Ở xa không về được, sau khi kết thúc 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, bố nhờ đoàn cán bộ của Bộ Quốc phòng đến thăm, chụp ảnh 4 mẹ con bên căn nhà đổ nát để gửi vào chiến trường cho bố yên tâm tiếp tục chiến đấu”, bà Lê Thị Thanh Hồng xúc động chia sẻ.Trong ký ức của bà Hồng, chiến tranh không chỉ là tiếng bom, mà còn là những bữa cơm ăn trong màn vì muỗi nhiều, những đêm mưa tốc mái phải ngồi co ro che ni-lông, những lần sơ tán trong bóng tối cùng cái đói và nỗi sợ không nguôi. Những ngày cuối tuần chạy ra đầu làng chỉ đợi mẹ đạp xe từ Hà Nội về tiếp tế, rồi chỉ kịp gặp gỡ chốc lát trước khi mẹ lại vội vã quay trở ra. Là chị cả, cô bé Hồng cũng phải gạt nước mắt để dỗ dành các em quay về, chờ cho đến chuyến thăm tuần sau.Là con của người lính thời chiến, hình bóng của bố là nỗi nhớ lớn dần theo năm tháng. Những đứa em của bà Hồng khi sinh ra đến lúc nhận thức được cũng không nhớ mặt bố.Bà Hồng kể tiếp: "Bởi thế, lần hiếm hoi năm 1969, khi bố từ chiến trường về Hà Nội tập huấn, mang theo cả bao tải là chiến lợi phẩm gồm các loại đài khác nhau về cho Thông tấn xã. Các đồng đội của bố cùng đến, tiếng nói cười ấm áp lấp đầy khoảng trống bấy lâu. Khi mọi người đã ra về, em út của tôi là Khánh, lúc bấy giờ mới bốn tuổi, rụt rè ghé tai bố thì thầm: “Chú cho cháu xin cái đài”. Cả nhà bật cười. Khánh xấu hổ chạy đi, còn bố tôi lặng nhìn theo, trong ánh mắt ánh lên một niềm ấm áp dịu dàng vừa thương con, vừa xót xa cho những năm tháng xa cách mà các con chưa kịp gọi một tiếng “bố” thân quen. Với chúng tôi, mỗi lần bố về thăm nhà, dù hiếm hoi nhưng thực sự rất đặc biệt. Ngôi nhà hiu quạnh trở nên rộn ràng, vì bố thường về cùng với các chú trong đơn vị. Trong nhà, ngoài vườn có gì mẹ đem ra đãi khách hết".Trong ký ức của bà Lê Thị Thanh Hồngvẫn vẹn nguyên hình ảnh bố đứng chờ ngoài sân mỗi khi thấy tôi gánh nước về, lặng lẽ đỡ lấy đôi thùng, xách vào nhà rồi đặt ngay ngắn: Bố về, chúng tôi vui lắm, vì lại được nghe kể chuyện chiến trường, gian khổ nhưng ấm tình quân dân. Bố kể về các đồng đội vào sinh ra tử ở những trận chiến khốc liệt, tình cảm của người dân các nước bạn Lào, Campuchia hay những nơi bố từng chiến đấu đã bao bọc, ủng hộ bộ đội Việt Nam ra sao... Bố bảo có vận động được nhân dân ủng hộ, bộ đội ta mới có thể dành chiến thắng ở những trận chiến quan trọng, có ý nghĩa sống còn.
Đồng chí Lê Khả Phiêu tại chiến trường. Ảnh do gia đình cung cấpCó lẽ chính từ những năm tháng ấy, trong gia đình hình thành một điều rất tự nhiên: Coi việc cống hiến cho Tổ quốc là lẽ sống, là trách nhiệm. Khi các em trai của bà trưởng thành, ông chưa bao giờ giữ con ở lại phía sau, kể cả khi các con nằm ở diện ưu tiên không phải đi bộ đội. Trái lại, ông luôn động viên, khích lệ các con vào quân ngũ, học tập, rèn luyện trong môi trường kỷ luật và gian khổ.Chia sẻ về những lá thư ông viết cho các con khi đang rèn luyện trong Quân đội, bà Hồng kể: Vẫn những lời lẽ giản dị, hết mực yêu thương, nhưng luôn nhắc đến tư cách người lính, và trách nhiệm sống sao cho xứng đáng. Với ông, việc các con khoác áo lính không phải để nối nghiệp bản thân, mà là sự tiếp nối tự nhiên của một gia đình đã gắn bó với cách mạng cả cuộc đời.
Đồng chí Lê Khả Phiêu. Ảnh do gia đình cung cấpBố đi rồi, ở nhà chỉ còn lại bà, mẹ và mấy chị em chúng tôi. Ngôi nhà nhỏ bị bom đánh sập hai lần, vào năm 1967 và 1972. Những đồ đạc còn sót lại đều mang dấu tích chiến tranh: Cái tủ gỗ thủng cánh vì mảnh bom, cái nồi thủng vẫn cố dùng, cái chảo hỏng quai lắc lư. Mẹ phải dùng bùn ao, rơm rạ trát lại vách, tự tay dựng lại nhà để che mưa nắng cho các con. Tôi còn nhớ đêm 22-12-1972 ngôi nhà đang ở bị bom san phẳng. Rất may mẹ đã kịp chở 3 chị em chúng tôi bằng xe đạp đi sơ tán ở Thường Tín vào buổi trưa cùng ngày nên may mắn vẫn an toàn. Ở xa không về được, sau khi kết thúc 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, bố nhờ đoàn cán bộ của Bộ Quốc phòng đến thăm, chụp ảnh 4 mẹ con bên căn nhà đổ nát để gửi vào chiến trường cho bố yên tâm tiếp tục chiến đấu”, bà Lê Thị Thanh Hồng xúc động chia sẻ.Trong ký ức của bà Hồng, chiến tranh không chỉ là tiếng bom, mà còn là những bữa cơm ăn trong màn vì muỗi nhiều, những đêm mưa tốc mái phải ngồi co ro che ni-lông, những lần sơ tán trong bóng tối cùng cái đói và nỗi sợ không nguôi. Những ngày cuối tuần chạy ra đầu làng chỉ đợi mẹ đạp xe từ Hà Nội về tiếp tế, rồi chỉ kịp gặp gỡ chốc lát trước khi mẹ lại vội vã quay trở ra. Là chị cả, cô bé Hồng cũng phải gạt nước mắt để dỗ dành các em quay về, chờ cho đến chuyến thăm tuần sau.Là con của người lính thời chiến, hình bóng của bố là nỗi nhớ lớn dần theo năm tháng. Những đứa em của bà Hồng khi sinh ra đến lúc nhận thức được cũng không nhớ mặt bố.Bà Hồng kể tiếp: "Bởi thế, lần hiếm hoi năm 1969, khi bố từ chiến trường về Hà Nội tập huấn, mang theo cả bao tải là chiến lợi phẩm gồm các loại đài khác nhau về cho Thông tấn xã. Các đồng đội của bố cùng đến, tiếng nói cười ấm áp lấp đầy khoảng trống bấy lâu. Khi mọi người đã ra về, em út của tôi là Khánh, lúc bấy giờ mới bốn tuổi, rụt rè ghé tai bố thì thầm: “Chú cho cháu xin cái đài”. Cả nhà bật cười. Khánh xấu hổ chạy đi, còn bố tôi lặng nhìn theo, trong ánh mắt ánh lên một niềm ấm áp dịu dàng vừa thương con, vừa xót xa cho những năm tháng xa cách mà các con chưa kịp gọi một tiếng “bố” thân quen. Với chúng tôi, mỗi lần bố về thăm nhà, dù hiếm hoi nhưng thực sự rất đặc biệt. Ngôi nhà hiu quạnh trở nên rộn ràng, vì bố thường về cùng với các chú trong đơn vị. Trong nhà, ngoài vườn có gì mẹ đem ra đãi khách hết".Trong ký ức của bà Lê Thị Thanh Hồngvẫn vẹn nguyên hình ảnh bố đứng chờ ngoài sân mỗi khi thấy tôi gánh nước về, lặng lẽ đỡ lấy đôi thùng, xách vào nhà rồi đặt ngay ngắn: Bố về, chúng tôi vui lắm, vì lại được nghe kể chuyện chiến trường, gian khổ nhưng ấm tình quân dân. Bố kể về các đồng đội vào sinh ra tử ở những trận chiến khốc liệt, tình cảm của người dân các nước bạn Lào, Campuchia hay những nơi bố từng chiến đấu đã bao bọc, ủng hộ bộ đội Việt Nam ra sao... Bố bảo có vận động được nhân dân ủng hộ, bộ đội ta mới có thể dành chiến thắng ở những trận chiến quan trọng, có ý nghĩa sống còn.
Đồng chí Lê Khả Phiêu tại chiến trường. Ảnh do gia đình cung cấpCó lẽ chính từ những năm tháng ấy, trong gia đình hình thành một điều rất tự nhiên: Coi việc cống hiến cho Tổ quốc là lẽ sống, là trách nhiệm. Khi các em trai của bà trưởng thành, ông chưa bao giờ giữ con ở lại phía sau, kể cả khi các con nằm ở diện ưu tiên không phải đi bộ đội. Trái lại, ông luôn động viên, khích lệ các con vào quân ngũ, học tập, rèn luyện trong môi trường kỷ luật và gian khổ.Chia sẻ về những lá thư ông viết cho các con khi đang rèn luyện trong Quân đội, bà Hồng kể: Vẫn những lời lẽ giản dị, hết mực yêu thương, nhưng luôn nhắc đến tư cách người lính, và trách nhiệm sống sao cho xứng đáng. Với ông, việc các con khoác áo lính không phải để nối nghiệp bản thân, mà là sự tiếp nối tự nhiên của một gia đình đã gắn bó với cách mạng cả cuộc đời.


