Đồng chí Lê Văn Lương - Kiên cường đứng mũi chịu sào trước gian nan thử thách
Đất nước hòa bình thống nhất, Hà Nội được Quốc hội khóa IV quyết định là Thủ đô của nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong giai đoạn mới của cách mạng, Đảng bộ Hà Nội được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ: Hà Nội phải được xây dựng thành một thành phố tiêu biểu cho chế độ XHCN trên đất nước ta, vừa có tính hiện đại, vừa có tính dân tộc, làm chỗ dựa cho sự nghiệp cách mạng XHCN của cả nước. Trước trọng trách đó, Trung ương Đảng đã cử đồng chí Lê Văn Lương, Ủy viên Bộ chính trị về Thành ủy Hà Nội và sau đó, đồng chí được Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố bầu là Bí thư Thành ủy Hà Nội (khóa VII, năm 1977-1980).
Suốt 10 năm, từ 30-5-1977 đến 23-10-1986, ở cương vị Bí thư Thành ủy, đồng chí Lê Văn Lương đã mang hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng Thủ đô, chăm lo cuộc sống của nhân dân Thành phố. Đó cũng là thời kỳ Hà Nội hết sức khó khăn về đời sống và mọi mặt kinh tế-xã hội. Hàng tháng, Thường vụ phải chỉ đạo sao cho các Sở-Ban-Ngành chạy đủ lương thực, thực phẩm, điện, nước, chất đốt cho nhân dân Thành phố. Và người dân vẫn ghi nhớ hình ảnh đồng chí Bí thư đi kiểm tra các quầy bán lương thực ở các tổ dân phố, gần gũi, bình dị.

Đồng chí Lê Văn Lương với các đại biểu dự Đại hội Đảng bộ Hà Nội lần thứ IX,
ngày 11/1/1982
Cơm áo, đường sá, cầu cống ở cái thời gạo châu củi quế, thật muôn nỗi gian nan; nhưng dưới sự chỉ đạo sao sát của Bí thư Lê Văn Lương, một số công trình hạ tầng giao thông vận tải đã được mở mang với những công trình trọng điểm: cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, sân bay Nội Bài…. Ngành vận tải biển pha sông được thành lập để đưa gạo từ đồng bằng Nam Bộ về thẳng cảng Phà Đen và đưa hàng từ Hà Nội vào đồng bằng Nam bộ. Nhiều khu nhà cao tầng đã mọc lên ở nội thành và các cửa ô, đáp ứng một phần nhu cầu nhà ở đã trở nên bức thiết cho công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang sau chiến tranh, ổn định cuộc sống.
Năm 1979 quân dân Thủ đô cùng cả nước chiến đấu bảo vệ toàn vẹn biên cương Tổ quốc ở phía bắc và phía tây nam và cũng là năm Đảng bộ Hà Nội bắt đầu thực hiện quyết định quan trọng của Trung ương Đảng và Quốc hội (ngày 29-12-1978): mở rộng thành phố lần thứ hai với 4 khu nội thành, 11 huyện, 1 thị xã ngoại thành, tổng số gần 2.500.000 dân Để Thành ủy Hà Nội có cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chính quyền phù hợp với sự phát triển đô thị, đồng chí trực tiếp đi khảo sát mô hình xây dựng chính quyền cấp quận và phường ở TP Hồ Chí Minh. Sau đó, Thành ủy đã chỉ đạo làm thí điểm ở một số địa bàn như phường Cửa Nam, Kim Liên… Đây là vấn đề mới và phức tạp đối với Thủ đô Hà Nội, nhưng đồng chí quyết tâm chỉ đạo chính quyền chuyển theo mô hình mới. Từ thực tiễn trên, Hà Nội góp phần quan trọng vào Nghị quyết kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI (ngày 18-12-1980), đóng góp sửa đổi một số điều Hiến pháp mới, trong đó, ghi rõ: Bộ máy chính quyền thành phố tổ chức thành 3 cấp: Thành phố, quận, phường.
Thành phố được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi về nhân tài vật lực cho Thủ đô, nhưng cũng nảy sinh ra nhiều khó khăn bất cập, đời sống nhân dân ngày càng gieo neo trong sự khủng hoảng kinh tế-xã hội. Ở cương vị người lãnh đạo cao nhất của Thành phố, đứng mũi chịu sào, đồng chí Lê Văn Lương đã nêu cao phẩm chất, năng lực của người cán bộ trung thành, tận tụy, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng. Những cơ sở công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp của thành phố làm thí điểm theo tinh thần nghị quyết hội nghị Trung ương 6 (khóa 4), khuyến khích người lao động theo cơ chế khoán gọn sản phẩm đã là những căn cứ quan trọng, góp phần cho Trung ương ban hành Chỉ thị 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán đến nhóm lao động và người lao động trong nông nghiệp; Nghị quyết 25/CP và 26/CP của Hội đồng Chính phủ về khoán sản phẩm trong công nghiệp. Trong những năm tháng đó, nhìn thẳng vào sự trì trệ của cơ chế bao cấp, thấy rõ khuyết điểm của Đảng bộ “chưa tập trung đúng mức vào việc cải tạo và xây dựng Thủ đô; chỉ đạo chưa nhạy bén, quản lý mang nặng tính chất hành chính bao cấp”(2), Bí thư Lê Văn Lương luôn luôn chống bệnh quan liêu, bảo thủ, hô hào suông. Các tổ chức cơ sở Đảng và mỗi Đảng viên: “phải có ý chí chiến đấu kiên cường, nhạy bén với các vấn đề mới do cuộc sống đặt ra, có đủ kiến thức để cụ thể hóa các chủ trương chính ách của Đảng và Nhà nước trong thực tế, chứ không chỉ ra nghị quyết, nêu khẩu hiệu”(3). Đối với Thành ủy và Ủy ban Nhân dân Thành phố, đồng chí yêu cầu cần cải tiến lề lối làm việc từ chính tư duy của cán bộ lãnh đạo còn mang nặng bệnh giấy tờ: “Vấn đề cơ bản vẫn là phải biến nghị quyết thành hành động cách mạng thực tiễn của đông đảo quần chúng nhân dân để cải biến tình hình, đưa cách mạng tiến lên. Đó là một vấn đề phải dút khoát để thanh toán hiện tượng một số nghị quyết không thực hiện được hoặc thực hiện “đầu voi đuôi chuột”(4).
Đặc biệt, gắn bó sâu sắc và thấu hiểu đặc thù riêng của Thủ đô Hà Nội, đồng chí Lê Văn Lương nêu cao và giữ vững luận điểm “phát huy nội lực Thủ đô”, nêu cao ý chí tự lực tư cường, tiềm năng và sức sáng tạo to lớn của các tầng lớp nhân dân Hà Nội. Đồng chí nói rõ trong di cảo để lại tháng 6 -1983: “Khi Trung ương xác định nhiệm vụ xây dựng Thủ đô không chỉ là nhiệm vụ của địa phương mà là trách nhiệm của cả Trung ương và Trung ương phải tập trung đầu tư cho Thủ đô, chúng ta vẫn không được ỷ lại. Tôi nghĩ rằng, đặc biệt trong bước đi ban đầu ở nước ta càng phải hết sức phát huy tiềm năng của địa phương, trên cơ sở đó mới tính đúng được phần đầu tư của Trung ương(5)
Với quan điểm đó, đồng chí đã đồng ý cho Thành Đoàn Hà Nội học tập kinh nghiệm của Đoàn Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 18-5-1985, Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng Thủ đô chính thức ra đời với nhiều mô hình mới: xí nghiệp khai thác than ở Quảng Ninh, Đội trồng rừng ở Ba Vì, Đội trồng cói ở Hà-Nam-Ninh. Cán bộ sở Thương nghiệp chủ động vào các tỉnh phía nam mở rộng nguồn hàng, liên doanh liên kết để có hàng hóa bán cho dân.



