Đồng chí Lê Văn Mừng
đồng chí Lê Văn Mừng

Nhắc lại trang sử đấu tranh hào hùng với tinh thần kiên cường, bất khuất của biết bao thế hệ, những người yêu nước và cách mạng trong nhà tù, trại giam của thực dân đế quốc, không chi là mặt trận chiến đấu khắc nghiệt, hiểm nghèo mà còn là một bộ phận quan trọng của cách mạng nước ta, đóng góp tích cực vào sự nghiệp giải phóng quê hương. Có biết bao người hy sinh cho côngcuộc giải phóng dân tộc vừa qua, hiện tại vẫn còn nhiều người đang sống. Tuy tuổi cao, sức yếu nhưng tinh thần và lòng nhiệt huyết cách mạng vẫn luôn trào dâng không ngừng.
Người mà tôi nhắc đến trong câu chuyện đấu tranh của cán bộ, chiến sĩ nhân dân Tiền Giang trong nhà tù, trại giam của địch giai đoạn (1930-1975) là đồng chí Lê Văn Mừng. Đồng chí Mừng sinh năm 1944, tại ấp Mỹ Phú B, xã Hậu Mỹ Phú, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nay Đồng Tháp, sinh ra và lớn lên trong gia đình làm nông, đông anh em, phải làm thuê kiếm sống. Lúc nhỏ, đồng chí sống cùng gia đình, lớn lên tham gia cách mạng, có thời gian bị địch bắt giam, bị tra tấn tàn bạo nhưng đồng chí vẫn kiên định lập trường cách mang.không khuất phục, giữ vững khí tiết của người cộng sản trung thành tuyệt đối với Đảng. Được các thành viên cựu tù kháng chiến của xã Hậu Mỹ Phú giới thiệu, tôi tìm đến nơi sinh sống của đồng chí Lê Văn Mừng.
Trước mắt tôi là một ngôi nhà cấp 4, đơn sơ, không gian không mấy rộng rãi, khoảnh sân nhỏ được bố trí ngăn nắp một số loại cây kiềng, tạo cho khung cảnh trở nên xanh tươi hơn. Khi trò chuyện cùng đồng chí Mừng, tôi thấy đồng chí vui vẻ, nhiệt tình, hòa nhã,vừa uống trà vừa nghe đồng chí ôn lại những tháng ngày chiến đấu hào hùng. Trước đây, hầu hết người dân xã Hậu Mỹ Phú nghèo khó nhưng có tỉnh thần tôn trọng lẽ phải, giàu lòng nhân ái, sẵn sàng chống lại áp bức bất công, có tinh thần đoàn kết yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, giàu truyền thống cách mạng và yêu nước.
Xã Hậu Mỹ Phú có vị trí quân sự quan trọng, là cửa ngõ phía nam Đồng Tháp Mười - vùng căn cứ cách mạng của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Đồng chí Lê Văn Mừng được nuôi dưỡng và giáo dục bởi truyền thống của quê hương, ngay từ nhỏ tận mắt chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân dưới ách thống trị của đế quốc, phong kiến. Sớm giác ngộ cách mạng, mới học đến lớp 3, đồng chí nghỉ học và bước chân vào con đường đấu tranh cách mạng. Được các bậc cách mạng đàn anh dẫn dắt, đồng chí học tập, rèn luyện về tư tưởng, lập trường vững vàng, được đồng chí, đồng đội, nhân dân thương yêu, tin cậy.Năm 1954, đồng chí nghe theo lời kêu gọi của Đảng, tất cả nam phụ, lão ấu, thanh niên, các tôn giáo, không phân biệt già trẻ, trai gái, không phân biệt vùng miền hễ là người Việt Nam đều chung tay đánh đuổi kẻ thù, chống lại thực dân, đế quốc và bọn tay sai bán nước.Tháng 2 năm 1962, đồng chí chính thức tham gia cách mạng, mà cụ thế là tham gia Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hô Chí Minh), cùng tham gia có đông chí Lê Thị Dễ, Lê Thị Điệc, Lê Thị Lựa và do đồng chí Huỳnh Văn Được (bí danh Thanh Bình), bí thư chi đoàn ấp Mỹ Quới kết nạp 04 đồng chí.
Tháng 3 năm 1963, đồng chí Mừng được đồng chí Năm Đáng là đội trưởng du kích rút lên làm thành viên đội du kích xã Hậu Mỹ, cùng tham gia nhiệm vụ có một số đồng chí như: đồng chí Lê Văn Trừ, Trương Văn Dựa, Lê Văn Phạng, đồng chí Tám Quang và một số đồng chí khác làm đội viên.Đến tháng 5 năm 1964, Huyện ủy cho thành lập Đội du kích liên xã gồm: xã Hậu Mỹ, xã Hội Cư và xã Hậu Thành do đồng chí 14Lê Văn Thức (bí danh Chí Công) làm trung đội trường. Đội nàyhoạt động trong khu vực 3 xã nêu trên, nhiệm vụ chủ yếu là đánh phá khu trù mật xã Hậu Mỹ.
Ngày 22-3-1966, khoảng 7 giờ, đồng chí Mừng đang thực hiện nhiệm vụ, mang báo cáo từ xã lên huyện, trên đường đi phát hiện một toán giặc khoảng hơn 10 tên nhảy dù xuống kênh Cây Trôm thuộc xã Hậu Mỹ Trinh bây giờ, nhận thấy chắc chắn không thể chạy thoát nên đồng chí đạp tài liệu xuông bùn. Sau đó, chúng băt đồng chí tra hỏi, chứi bởi, răn đe nhưng đồng chí không để bọn giặc nghi ngờ, lúc bấy giờ là vào cuối tháng 3 (âm lịch) nên đồng chí nói đi thăm đất cày để chuẩn bị gieo sạ, nhưng bọn giặc không tin, nên chúng cho 2 tên lính kè đồng chí áp tải lên trực thăng chở xuống quận Cái Bè, đến nơi chúng đề đồng chí ở đó vài giờ rồi áp giải dồng chí đến Chi Công an quận giam một tuần lễ.
Khi vừa đến Chi công an quận Cái Bè, 2 tên lính đến bắt đầu tra hỏi, dồng chí Mừng vẫn nói đi thăm đất cày, vừa dứt lời chúng dùng dùi cui đánh túi bụi vào đầu, mình, bả vai, chân, tay và mặt làm đồng chí gãy 03 chiếc răng, máu chảy khắp miệng, vì đau và chảy máu nhiều nên đồng chí ngất di, tinh dậy chúng tiếp tục tra hỏi, cứ thế diễn ra 1 tuần lễ, tuy bị tra tấn nhưng chúng vẫn để người nhà vào thăm nuôi, nhằm lấy thêm thông tin. Tuy nhiên, do không điều tra được gì, nên ngày 28-3-1966, chúng tiếp tục áp giải đồng chí xuống Khám đường Mỹ Tho và giam tại Phòng 1. Khám đường này có nhiều phòng giam để bố trí từng đối tượng tù nhân, mỗi phòng chúng giam cả 100 người, riêng Phòng 1 chúng giam giữ đồng chí Mừng là phòng giam dành cho tù chính trị.
Sau đó, chúng đưa từng đợt 20 người tù chính trị sang Ty Công an Định Tường để tiếp tục khai khác. Sau khi tra tấn nhục hình, hỏi cung tù nhân, chúng lại trả ngược trở về Khám đường Mỹ Tho giam cầm. Ở đây, những hình thức mà chúng dùng để tra tấn, hỏi cung tù nhân tàn bạo, dã man hơn gấp nhiều lần so với Khám đường Mỹ Tho. Cứ mỗi lần hỏi cung mà không điều tra được gì, tên chi huy lại cho đám lính thay đổi hình thức tra tấn nặng hơn,dùng gạch đánh vào lưng, ngưc, dùng roi mây bắt nằm sắp xuống nền xi mắng, dánh vào gang bản chân hay dùng dây thừng lớm buộc 2 chân sắt lại rồi treo lên lơ lừng lên trần nhà rồi đánh đập, dây thừng siết chặt cứa vào cổ chân rướm máu sau đó chúng dặp vào người, đây là hình thức tra tấn gọi là lận mề gà, tàn độc hơn có hôm, chúng dùng cả kẹp điện cột vào hai bàn tay, bàn chân rồi cho diện chập, cứ thế lặp đi lặp lại nhiều lần, đến khi tủ nhân không chịu được ngất đi, sau đó chúng dội nước lạnh vào mặt cho tinh lai rồi tiếp tục hỏi cung, nếu lời khai trùng khớp như ban đầu thì tiếp tục tra hỏi hay lôi vào phòng giam chờ qua ngày khác tra hỏi tiếp.
Qua trao đổi với tôi, đồng chí Mừng rơm rớm nước mắt kể lại khi dặt chân vào trại giam, đồng chí tận mắt chứng kiến, ai cũng đều bi đánh đập dã man, tàn khốc, bọn giặc mỗi khi tra tần tù nhân nào đó, đều cố tình dùng hình phạt đề lây cung trước mặt những tù nhân còn lại nhằm uy hiếp tinh thần, tạo sự khiếp sợ, khiến chiến sĩ ta nhụt chí mà dầu hàng khai báo. Trong phòng giam, cùng một số tủ nhân trước đó, đồng chí Mừng đã thăm đò hỏi thủ đoạn, hình thức hành hạ của bọn giặc và được một số tù nhân lâu năm chi dẫn, giúp đỡ, dù bọn giặc tra tấn có đau đớn đến đâu hay dùng lời ngon ngọt dụ dỗ cho lợi lộc, hứa hẹn sẽ trao trả tự do thì phải cố tinh táo mà khai y như lúc ban dầu, nếu không chỉ có con đường chết mà nhiều khi còn liên lụy đến cả nhà, nghiêm trọng hơn là làm ảnh hướng đến tổ chức, đến đơn vị.
Tuy trải qua, những ngày tháng gian khổ đau đớn trong trại giam nhưng đồng chí được anh em trong phòng giam tiếp thêm tinh thần, nghị lực, mặc dù không cùng nơi sinh ra, không máu mủ ruột thịt; nhưng tất cả mọi người có cùng hoàn cảnh bị giam cầm và quan trọng hơn hết là cùng chung lý tưởng cách mạng. Chính vì thế, trong hoàn cảnh khó khăn đó, các chiến sĩ ta đã thể hiện tình yêu thương, giúp đỡ, che chở, đùm bọc nhau trên tinh thần đồng chí, đồng đội.
Đồng chí Mừng kể, anh em chúng tôi vượt qua những ngày tháng đó, chúng tôi cùng san sẽ, kề vai sát cánh, nhường nhịn nhaukiộc có sự đề phòng kỳ hơn, chất chế hơá. Đồng chí Mùng tranh thứ c sủ ửữ ăn cơm trưa, dồng chí thám dộ ý kiến của một số tị nhài khự c, bản bạc lên kể hoạch tìm cách đề chạy trồn, mọi người đều thống nhất giải pháp hiệu quả nhất.
Đồng chí Mừng kể: vài ngày sau, theo kế hoạch mà chúng tôi đã bản tinh trước, bản thân may mắn cũng biết ca hát chút ít và thăm đỏ được sở thích mệ văn nghệ của tên lính canh, tôi hát vài cầu vọng cổ và đúng như kế hoạch dự định, tên lính gác tô ra thích thú, sau đó đến hỏi: "Bộ mày làm trong đoàn văn công hay sao mà hát hay vậy, để tao về xin đại ủy cho tụi bây tô chức một buổi văn nghê chơi". Thể rồi, chúng tôi mượn việc tổ chức đờn ca nhằm lơi dụng lúc sơ hở của giặc lúc mải mê nghe hát. Tôi và 08 đồng chí nựa ra hiệu lẫn nhau lên chạy trốn. Sau đó, các đồng chí còn ở lại, chờ chúng tôi đã di xa rồi giả vờ mới phát hiện báo cho đám lính.
Sau này, nghe kể lại bọn giặc rất tức tối và cho lính truy tìm ráo riết, nổ súng bắn loạn xạ. May thời, trời tháng 5 đồ cơn mưa thật lớn, anh em chúng tôi lợi dụng thời tiết và địa hình kênh rạch chẳng chịt, cố gắng chạy trốn thêm 17 người nữa ra vùng giải phóng. Sau đó chúng tôi gặp lại nhau. Sau 4 ngày đêm cố gắng hết sức chạy trốn, được sự đùm bọc, giúp đỡ tận tình của các anh em cơ sở nên chúng tối may mắn thoát dược, các anh tạo mọi điều kiện thuận lợi để đưa chúng tôi trở về lại địa phương.
Khi đặt chân về đến địa phương, đồng chí Mừng được đồng chí Nguyễn Văn Tống (Bí danh Bảy Sơn) là Trường ban An ninh xã Hậu Mỹ tiếp đón. Sau đó, đồng chí Mừng được phân công vụ làm công tác giao liên xã cho đồng chí Đinh Văn Lư (Bí thư xã Hậu Mỹ) và làm dân công tải vũ khí.
Đến 30-4-1975 thống nhất đất nước, đồng chí tiếp tục được cấp ủy đảng phân công phụ trách làm Ban Thông tin xã Hậu Mỹ Nam và Bí thư Chi bộ, sau một thời gian công tác tiếp tục được cứ làm Trường ban Tổ chức Đảng ủy, rồi chủ nhiệm hợp tác xã mua bán, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, quyền Bí thư xã Hậu Mỹ Nam năm 1984. Bản thân đồng chí đảm nhiệm nhiều chứcnhiệm vụ mà Đảng, chính quyền phân công, dù ở bất kỳ cương vị nào đồng chí cũng luôn cổ gắng hoàn thành nhiệm vụ, trong suốt quá trình công tác, đồng chí luôn kiên định lập trường cách mạng, niềm tin vào sự tất thắng, luôn giữ trọn khí tiết của người cộng sản.
Đảng ủy xã Hậu Mỹ Phú và tập thể anh em cựu tù của địa phương tin nhiệm đề xuất làm Trưởng ban Liên lạc cựu tù kháng chiến và hoạt động kể từ đó cho đến nay. Đồng chí Mừng vào Đảng chính thức năm 1976, dù hiện nay đang sống trong thời bình, người dân an cư lạc nghiệp, quê hương phát triển, nhà nhà có cuộc sống ấm no hạnh phúc, nhưng những mất mát, đau thương của chiến tranh để lại đổi với đồng chí vẫn còn, đó là những trận đòn roi, tra tấn của địch trên thân thể đồng chí, nhất là khi trái gió trở trời, nhiều đêm đau nhức đến mức không thể chợp mắt được. Những danh hiệu mà đồng chí Mừng được Đảng, Nhà nước phong tặng như: Huân chương Chống Mỹ cứu nước hạng nhì, danh hiệu 30, 40, 45 năm tuổi Đảng và nhiều giấy khen của tỉnh, huyện, xã trao tặng.Ở đồng chí Lê Văn Mừng, phẩm chất nồi bật là tấm gương học tập và rèn luyện không ngừng, tinh thần không khuất phục trước mọi khó khăn, thách thức. Từ khi bước chân vào hoạt động cách mạng cho đến khi bị giặc bắt giam, rồi trốn thoát, bằng niềm tin mãnh liệt đối với lý tưởng cách mạng, đồng chí xứng đáng là tấm gương sáng cho con cháu noi theo về lòng yêu nước và trung kiên với cách mạng.



