Đồng chí Lê Văn Vĩnh
Đồng chí Lê Văn Vĩnh, còn có tên là Phạm Hữu Nghĩa, sinh năm 1926, tại làng Hòa Thinh, tổng Tuân Giáo, huyện Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ, nay thuộc xã Hòa Ân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
LÊ VĂN VĨNH
Đồng chí Lê Văn Vĩnh, còn có tên là Phạm Hữu Nghĩa, sinh năm 1926, tại làng Hòa Thinh, tổng Tuân Giáo, huyện Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ, nay thuộc xã Hòa Ân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
Năm 1945, Lê Văn Vĩnh hăng hái tham gia tổ chức Thanh niên Tiền phong làm nòng cốt cho phong trào quần chúng nhân dân nổi dậy giành chính quyền, dưới sự lãnh đạo của Quận ủy Cầu Kè, giành chính quyền về tay nhân dân.
Cuối năm 1949, đồng chí Lê Văn Vĩnh cùng tiểu đội dân quân Hòa Ân được giao nhiệm vụ phối thuộc dẫn đường cho Tiểu đoàn chủ lực 308, thuộc Liên Trung đoàn 109 - 111 trong chiến dịch Bắcsama - Cầu Kè. Sau chiến dịch này, đồng chí Lê Văn Vĩnh tình nguyện tham gia bộ đội, cùng Tiểu đoàn 308 bộ đội chủ lực Phân Liên khu miền Tây Nam bộ chiến đấu, lập nên nhiều chiến công khắp các tỉnh miền sông nước Cửu Long, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trong chiến đấu, đồng chí Lê Văn Vĩnh được kết nạp vào Đảng và được đề bạt là cán bộ trung đội bậc phó.
Năm 1954, đồng chí đi đường tập kết ra miền Bắc, đi học bổ túc văn hóa, học chính trị, rồi đưa sang Trung Quốc học trường Võ bị chuyên ngành Tình báo quân sự. Cuối năm 1961, đồng chí được lệnh lên đường về Nam chiến đấu. Cuối năm 1962, đồng chí Lê Văn Vĩnh được phân công về nhận công tác xây dựng Đội 36 Tình báo giao thông thuộc Bộ Tham mưu Quân khu miền Đông Nam bộ với bí danh Phạm Hữu Nghĩa. Trong khi đó, tại quê nhà Cầu Kè, thân nhân gia tộc nhận được hung tin báo tử của đồng chí Lê Văn Vĩnh sau thời gian dài bặt tin tức từ năm 1954.
Bước sang năm 1967, đồng chí Phạm Hữu Nghĩa và Đội 36 Tình báo giao thông được lệnh tăng cường các hoạt động ở mức cao nhất.
Chỉ trong 6 tháng cuối năm 1967, đồng chí đã đột nhập thành công vào Tổng nha Cảnh sát, Nha Cảnh sát đô thành, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, tiểu khu Gia Định và các chi khu vùng ven như Hóc Môn, Trăng Bàng, Tân Uyên... cùng những cơ sở tại chỗ lấy đi nhiều tài liệu quan trọng, đáp ứng đúng và kịp thời yêu cầu của cấp trên tại thời điểm mang tính lịch sử đó.
Vào chiến dịch Mùa xuân 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh nổ ra, sau khi tổ chức mạng lưới trinh sát và giao thông tình báo trong chiến dịch, đồng chí Phạm Hữu Nghĩa trực tiếp chỉ huy một tổ xung kích tổ chức đột nhập vào khu vực Bộ Tổng tham mưu vào lúc 9 giờ sáng ngày 30/4/1975. Khi các cánh quân ta rầm rập tiến vào Sài Gòn, đồng chí đã mưu trí bắt giữ tên đại tá chỉ huy lực lượng phòng thủ khu vực Bộ Tổng tham mưa cùng hơn 30 tên sĩ quan khác, làm cho hệ thống phòng thủ của địch tại đây rơi vào tình trạng bị tê liệt, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị bạn tiến công, làm chủ hoàn toàn mục tiêu, tiến tới giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn mà không đổ máu.
Sau ngày giải phóng miền Nam, đồng chí Lê Văn Vĩnh được quân đội phong quân hàm thiếu tá, tiếp tục giữ cương vị Chỉ huy trưởng kiêm Chính trị viên Đội 36 Tình báo giao thông Quân khu 7. Tại lễ mừng công và trao quân hàm, đồng chí Lê Văn Vĩnh nhận cùng lúc nhiều huân huy chương, danh hiệu mà trước đó vì lý do bí mật của công tác nên cấp trên chưa thể trao, bao gồm: 01 Huân chương Quân công hạng I, 01 Huân chương Chiến công hạng I, 03 Huân chương Chiến công hạng III, 03 danh hiệu Dũng sĩ, 03 danh hiệu Chiến sĩ thì đua...
Với những chiến công lừng lẫy và công lao đóng góp kiệt xuất cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, giải phóng dân tộc, ngày 6/11/1978, Đội 36 Tình báo giao thông Quân khu 7 và Trung tá Lê Văn Vĩnh (tức Phạm Hữu Nghĩa) - Chỉ huy trưởng kiêm Chính trị viên Đội 36 Tình báo giao thông - được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Tiếp đó, Anh hùng Lê Văn Vĩnh được tặng thưởng: Huy hiệu 40, 50, 60 năm tuổi Đảng; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
Năm 1984, ở tuổi 58. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thượng tá Lê Văn Vĩnh (tức Phạm Hữu Nghĩa) - Trưởng phòng Tình báo quân sự thuộc Bộ Tham mưu Quân khu 7 được Đảng, quân đội cho nghỉ hưu và sinh sống cùng gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Do tuổi cao sức yếu, ông mất năm 2008, hưởng thọ 82 tuổi./.



