Đồng chí Nguyễn Chánh – “Vị tướng không quân hàm” tài đức vẹn toàn

Đồng chí Nguyễn Chánh tên thật là Nguyễn Thiện, bí danh Chí Thuần, sinh ngày 01/8/1914 trong một gia đình nhà nho giàu lòng yêu nước tại thôn Thọ Lộc, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mảnh đất quê hương kiên cường cùng truyền thống của gia đình đã sớm nuôi dưỡng trong đồng chí tinh thần yêu nước, ý thức đấu tranh và khát vọng giải phóng dân tộc.
Khi mới khoảng 14-15 tuổi, Nguyễn Chánh đã tham gia làm liên lạc cho tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1930, đồng chí gia nhập Thanh niên Cộng sản đoàn và Nông hội đỏ. Đến năm 1931, ở tuổi 17, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Từ đó, cuộc đời người thanh niên Nguyễn Chánh gắn liền với con đường cách mạng đầy hiểm nguy. Những năm tháng hoạt động dưới chế độ thực dân đã tôi luyện ở đồng chí bản lĩnh kiên cường, tư duy sắc sảo và khả năng nhìn nhận thời cuộc hiếm có.
Ngày 09/3/1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp. Khi ấy, Nguyễn Chánh đang bị giam tại nhà tù Thừa Phủ, Huế. Bằng sự nhạy bén chính trị, đồng chí sớm nhận định tình thế cách mạng đang chuyển biến nhanh chóng và Quảng Ngãi có khả năng nổ ra khởi nghĩa.
Trở về quê hương, đồng chí được bổ sung vào Tỉnh ủy lâm thời, phụ trách công tác quân sự và trực tiếp tham gia lãnh đạo Đội Du kích Ba Tơ trên cương vị Chính trị viên.
Thời điểm ấy, Đội Du kích Ba Tơ đang gặp nhiều khó khăn, lực lượng còn mỏng và chủ yếu hoạt động trên vùng rừng núi. Sau khi nghiên cứu tình hình, Nguyễn Chánh đề xuất củng cố chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo; đồng thời đưa lực lượng du kích về đồng bằng, dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng và tổ chức chiến đấu.
Chủ trương ấy thể hiện một tư duy quân sự sâu sắc: nhân dân chính là nơi che chở kín đáo nhất, là căn cứ vững chắc nhất của lực lượng cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và sự đóng góp quan trọng của Nguyễn Chánh, Đội Du kích Ba Tơ nhanh chóng trưởng thành, trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ngãi tháng 8/1945. Đồng chí được xem là một trong những người đã góp phần tạo nên linh hồn và sức mạnh của đội quân cách mạng đầu tiên ở Liên khu 5.
Cách mạng Tháng Tám thành công chưa được bao lâu, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Trong tình thế vận mệnh dân tộc đứng trước muôn vàn thử thách, Nguyễn Chánh được giao làm Ủy trưởng Quốc phòng Trung Bộ, phụ trách công tác quân sự.
Trên những cương vị Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Bí thư Liên tỉnh ủy Quảng Ngãi – Bình Định – Phú Yên rồi Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5, đồng chí đã gắn bó mật thiết với quân và dân miền Trung – Tây Nguyên, trong đó có chiến trường Phú Yên.
Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, Nguyễn Chánh đã xác định đây là cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, đòi hỏi phải huy động sức mạnh của toàn dân. Theo đồng chí, không thể chỉ dựa vào bộ đội chủ lực mà phải xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, phát triển dân quân tự vệ và bộ đội địa phương rộng khắp; mỗi tỉnh, mỗi huyện đều phải có căn cứ để đứng vững và chiến đấu lâu dài.
Đồng chí đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng chủ lực mạnh, kết hợp chiến đấu chính diện với hoạt động sâu trong vùng đối phương kiểm soát. Tư tưởng “biến hậu phương địch thành tiền phương ta” được vận dụng sáng tạo trên chiến trường Liên khu 5. Phương thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” cũng được triển khai linh hoạt, phù hợp với điều kiện chiến đấu ở miền Trung, Tây Nguyên, Hạ Lào và vùng Đông Bắc Campuchia.
Từ những chủ trương đúng đắn ấy, quân và dân Liên khu 5 từng bước phá thế bao vây, mở rộng vùng căn cứ, buộc quân Pháp phải bị động đối phó trên nhiều hướng. Đây là một trong những đóng góp quan trọng của Nguyễn Chánh đối với sự hình thành và phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Trong cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954, trên cương vị Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5, Nguyễn Chánh cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy tổ chức các hoạt động quân sự nhằm phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ.
Thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương, lực lượng Liên khu 5 mở Chiến dịch Bắc Tây Nguyên, tiến công vào những nơi đối phương tương đối sơ hở, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Nguyễn Chánh, quân ta giành được những thắng lợi quan trọng, giải phóng thị xã Kon Tum và phần lớn địa bàn Bắc Tây Nguyên vào tháng 2/1954.
Chiến thắng này không chỉ làm thay đổi cục diện chiến trường miền Trung – Tây Nguyên mà còn góp phần chia lửa, phân tán lực lượng cơ động của Pháp, hỗ trợ cho mặt trận chính Điện Biên Phủ. Qua đó, tài năng tổ chức, chỉ huy và tư duy quân sự của Nguyễn Chánh càng được khẳng định.
Ở Nguyễn Chánh, tài năng quân sự luôn đi liền với lòng nhân hậu. Đồng chí hiểu rằng phía sau mỗi người lính là cha mẹ, vợ con và những người thân đang ngày đêm mong ngóng. Bởi vậy, trong mỗi kế hoạch tác chiến, đồng chí luôn cân nhắc kỹ lưỡng, cố gắng giành thắng lợi nhưng hạn chế thấp nhất sự hy sinh của bộ đội.
Sau trận Măng Đen ngày 28/01/1954, khi trực tiếp khảo sát chiến trường, nhìn thấy dấu máu của những chiến sĩ đã vượt qua cửa mở để đánh chiếm lô cốt, đồng chí lặng người vì xúc động. Đối với Nguyễn Chánh, mỗi chiến thắng đều được đánh đổi bằng xương máu, vì thế người chỉ huy phải biết trân trọng từng sinh mạng của cán bộ, chiến sĩ.
Khi Hiệp định Genève sắp có hiệu lực, trước đề nghị tiếp tục tổ chức một số trận tập kích, đồng chí kiên quyết không chấp thuận vì không muốn bộ đội phải chịu thêm những tổn thất không cần thiết. Chính tấm lòng ấy đã khiến đồng chí không chỉ được kính trọng bởi tài cầm quân mà còn được yêu quý như một người anh, một người đồng đội gần gũi và giàu lòng nhân ái.
Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, Nguyễn Chánh được giao giữ chức Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, tiếp đó là Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ thuộc Bộ Quốc phòng. Đồng chí đồng thời là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II.
Năm 1958, Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu thực hiện chế độ phong quân hàm cho sĩ quan. Theo hồi ký của Trung tướng Đặng Hòa, khi chuẩn bị đợt phong quân hàm đầu tiên, Nguyễn Chánh từng được đề nghị phong quân hàm Thượng tướng. Tuy nhiên, đồng chí đã đột ngột qua đời vì bệnh hiểm nghèo tại Hà Nội ngày 24/9/1957, trước thời điểm việc phong quân hàm được thực hiện.
Bởi vậy, trong suốt quá trình công tác, đồng chí chưa được phong quân hàm chính thức. Với tài năng, đức độ và những đóng góp lớn lao cho quân đội, đồng chí, đồng đội và nhân dân trìu mến gọi Nguyễn Chánh là “vị tướng không quân hàm”.
Nguyễn Chánh ra đi khi mới 43 tuổi, sau 26 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng. Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng đồng chí đã đảm đương nhiều trọng trách, từ người cán bộ hoạt động bí mật, Chính trị viên Đội Du kích Ba Tơ đến nhà lãnh đạo, chỉ huy cao cấp của Đảng và Quân đội.
Đồng chí để lại những đóng góp quan trọng trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tổ chức chiến tranh nhân dân và chỉ huy chiến trường Liên khu 5. Trên mỗi cương vị, Nguyễn Chánh đều thể hiện sự kiên định của người cộng sản, tầm nhìn của một nhà quân sự và tấm lòng nhân hậu của người cán bộ luôn sống giữa nhân dân, vì nhân dân.
Đánh giá về Nguyễn Chánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi đó là “một cuộc đời thật đẹp” – cuộc đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc và một con người mẫu mực.
Với những cống hiến đặc biệt ấy, đồng chí Nguyễn Chánh được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Tên tuổi của đồng chí mãi gắn với Đội Du kích Ba Tơ, với quân và dân Liên khu 5, đồng thời trở thành biểu tượng đẹp về một người lãnh đạo tài năng, đức độ và hết lòng vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


