ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ĐÁNG - NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, MẪU MỰC, SUỐT ĐỜI VÌ ĐẢNG, VÌ DÂN

Trên vùng đất Huyền Hội nghèo khó của huyện Càng Long, nơi những ngôi nhà lá nép mình bên những hàng dừa, mùa lúa nối mùa lúa. Năm 1925, một cậu bé tên Nguyễn Đáng cất tiếng khóc giữa cuộc đời. Cha mẹ ông đều là tá điền, ngày ngày sống dưới gọng kềm của địa chủ. Từ nhỏ, ông đã thấm nỗi nhọc nhằn của kiếp người lam lũ: sáng làm việc cho chủ nhà, chiều phụ giúp cha mẹ, tối nén lòng học chữ dưới ánh đèn dầu vàng vọt. Nhưng chính trong nghèo khó ấy, nhân cách của ông được mài rèn. Người ta nhớ về cậu bé Năm Trung hiền lành mà cương trực, thương cha mẹ, thương bà con lối xóm. Càng chứng kiến cảnh dân quê chịu thiệt thòi, lòng ông càng nung nấu một câu hỏi: liệu cuộc sống này có thể thay đổi?
Khởi đầu ươm mầm cách mạng
Đến năm 19 tuổi, câu hỏi ấy tìm được lời đáp. Cán bộ cơ sở cách mạng về hoạt động tại Huyền Hội, những lời tuyên truyền giản dị nhưng tha thiết đã thức tỉnh trong ông một ngọn lửa trách nhiệm. Nguyễn Đáng xin thôi làm thuê, chuyển sang đánh xe ngựa để dễ bề hoạt động bí mật. Mỗi chuyến xe đi qua Bãi San, Cầu Kè, Tiểu Cần… không chỉ chở hàng hóa mà còn chở theo thông tin tình hình địch, những mật thư trao tay trong lặng lẽ.
Đầu năm 1945, phong trào Thanh niên Tiền phong dâng cao, ông hòa mình vào dòng chảy cách mạng. Ngày 25/8/1945, khi nhân dân xã Huyền Hội đứng lên giành chính quyền, Nguyễn Đáng cũng trong hàng ngũ ấy, lòng đầy tin tưởng vào vận mệnh mới. Sau thành công, ông được giao phụ trách Đội Thanh niên cứu quốc, tổ chức du kích, diệt tề, phá càn, giữ vững thành quả Cách mạng tháng Tám. Năm 1947, Nguyễn Đáng vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Những thử thách mới bắt đầu chờ ông phía trước.
Giữa khói lửa kháng chiến
Năm 1951, trong một trận chống càn quyết liệt, ông bị thực dân Pháp bắt. Chúng dùng mọi hình thức tra tấn dã man để khai thác thông tin, nhưng ý chí của người cộng sản trẻ vẫn sắt đá. Ở Khám Lớn Trà Vinh, ông tiếp tục tổ chức lại lực lượng tù chính trị, giữ vững tinh thần chiến đấu. Sau tám tháng, ông cùng hàng trăm tù nhân lập kế hoạch vượt ngục thành công – một sự kiện khiến địch bất ngờ và phong trào địa phương thêm phấn chấn. Trở về quê, ông lại hòa mình vào các phong trào như chưa từng có những tháng ngày ngục tối. Ông được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng: năm 1954 làm Bí thư xã Huyền Hội; năm 1956 là Huyện ủy viên Càng Long; năm 1959 giữ chức Bí thư Huyện ủy Càng Long. Thời kỳ ấy, Mỹ – Diệm thực hiện Luật 10/59, đem máy chém đi khắp miền Nam. Nhưng giữa những ngày đen tối, Nguyễn Đáng vẫn kiên trì bám dân, giữ đất, chỉ đạo ba mũi giáp công, góp phần đưa phong trào Đồng Khởi bùng nổ.
Tháng 3/1961, ông được bầu vào Tỉnh ủy, kiêm Chính trị viên Tỉnh đội Trà Vinh. Năm 1965, ông giữ chức Bí thư Tỉnh ủy – giai đoạn chiến tranh diễn ra ác liệt nhất. Dù bom đạn trút xuống, ông vẫn trực tiếp xuống các xã, ấp, gặp dân, gặp du kích, động viên tinh thần, chỉ đạo tác chiến, nắm chắc tình hình. Ông đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng Khmer, tạo khối đoàn kết vững chắc giữa các dân tộc trong tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân dân Trà Vinh đã làm chủ nhiều vùng rộng lớn, giải phóng quận lỵ Long Toàn. Tỉnh được tặng Huân chương Quân công hạng II và trở thành một trong những địa phương dẫn đầu chiến trường Tây Nam Bộ. Xuân Mậu Thân 1968, ông chỉ đạo giải phóng nhiều vùng và 2/3 dân số toàn tỉnh, đưa Trà Vinh trở thành điểm sáng với danh hiệu “Ngọn cờ đầu toàn miền Tây”.
Cuối năm 1968, ông được điều về Khu ủy Tây Nam Bộ. Giai đoạn 1974–1975, ông là Trưởng Ban Binh vận, trực tiếp chỉ đạo ở Vĩnh Long – Trà Vinh và tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh với vai trò Phó Tư lệnh Mặt trận miền Tây. Ông còn tình nguyện chỉ huy lực lượng tấn công vùng xung yếu ở Long Xuyên trước khi giải phóng Cần Thơ.
Trọng trách sau chiến thắng
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách như: Bí thư tỉnh Long Châu Hà, Phó Bí thư Tỉnh ủy An Giang, rồi Bí thư Tỉnh ủy Cửu Long trong ba nhiệm kỳ liên tiếp. Dù ở cương vị nào, ông cũng giữ trọn sự liêm khiết, giản dị, sâu sát nhân dân, hết lòng vì lợi ích chung.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Năm 1981, Tổng Bí thư Lê Duẩn về thăm Cửu Long đã nhận xét: “Tỉnh Cửu Long có bốn cái được: được mùa, được lúa, được quân, được lòng dân phấn khởi.” Lời khen ấy là sự ghi nhận xứng đáng cho sự lãnh đạo tận tâm, hiệu quả của đồng chí Nguyễn Đáng.
Nhà văn Trần Bạch Đằng từng viết về ông: “Anh yêu cuộc sống và phấn đấu ngoan cường từng ngày để giữ lấy sự sống… Anh không bao giờ vắng mặt trong đội ngũ, vì anh để lại một điều không thể phai mờ: cách sống của anh.”
Ngày 8/4/1984, sau những tháng ngày chống chọi với bệnh tật, ông rời xa đồng chí, đồng bào, để lại niềm tiếc thương vô hạn. Nhân dân Cửu Long đưa tiễn ông về Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh trong sự kính trọng và tri ân đối với một cuộc đời trọn vẹn vì Đảng, vì dân.
Công lao và sự ghi nhận
Với những đóng góp to lớn cho đất nước, cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Đáng đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Quyết thắng hạng Nhất; Huân chương Giải phóng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Độc lập hạng Nhất Huân chương “Lao động quên mình” do Nhà nước Liên Xô trao tặng.
Những phần thưởng ấy là minh chứng cho tầm vóc của một chiến sĩ cộng sản trung kiên, một nhà lãnh đạo cả đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng. Nhưng trên hết, đó là sự tri ân sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân dành cho người đã sống trọn vẹn vì Tổ quốc.
Đồng chí Nguyễn Đáng ra đi, nhưng tấm gương cống hiến, tinh thần quả cảm và sự tận tụy vì nhân dân vẫn còn mãi. Trong ký ức đồng chí, đồng đội và nhân dân, ông là biểu tượng của thời hoa lửa – một thời mà những con người như ông đã làm nên lịch sử bằng chính máu, nước mắt và lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc.



