Người có công giúp đỡ cách mạng

ĐỒNG CHÍ NGUYỄN TẨU (1907-1978)

Vĩnh Long29/11/2025Hoa Lửa2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông tên thật là Nguyễn Văn Tời (bí danh Ba Lê, Hồ Việt Đông), sinh ngày 23/10/1907 trong một gia đình trung nông ở làng An Bình Đông, quận Ba Tri (nay là xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Cha ông là Nguyễn Văn Kỉnh (Cường) và mẹ là bà Phan Thị Én. Ông Kỉnh là người giỏi võ nghệ, khí khái. Thuở nhỏ, Thời học chữ Nho, chữ Quốc ngữ, được cha dạy võ và sớm nhận thức được nỗi nhục mất nước của dân tộc. Năm 1929, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tích cực tuyên truyền tư tưởng cách mạng cho nông trong hội banh, hội lân, hội lái xe. Tháng kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. dân, ngư dân và bạn bè 8/1930, Nguyễn Tẩu được

Sau phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh, do địch khủng bố, truy bắt, ông lánh sang Phnôm Pênh. Cuối năm 1932, ông trở về Bến Tre bắt liên lạc với các ông Nguyễn Văn Bích, Trần Văn An gầy dựng lại phong trào. Hàng ngày, ông phải sống bí mật dưới ghe đáy để tránh sự theo dõi của địch.

Những năm 1932-1935, cách mạng rơi vào tình thế thoái trào do sự đàn áp, khủng bố gắt gao của địch. Ông bị bắt, sau đó được thả ra, trở về hoạt động và làm Bí thư Chi bộ An Đức.

Năm 1935, ông được cử làm Bí thư Quận ủy Ba Tri. Năm 1936, ông tham gia Tỉnh ủy Bến Tre (Lúc này, Tỉnh ủy gồm các ông Nguyễn Văn Triệu (Ba Chà), Nguyễn Tấu, Nguyễn Văn Trà, Huỳnh Thiên Tầng và Nguyễn Văn Bích) và tích cực hoạt động, có nhiều đóng góp trong phong trào dân chủ (1936 - 1939) ở địa phương. Cuối năm 1939, trên đường đi công tác, ông bị địch bắt tại Châu Bình (nay là xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm), đưa đi đày ở Tà Lài (nay thuộc xã Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).Trong năm này, vợ ông là bà Lê Thị Đào mất, để lại 6 con nhỏ, là một thử thách khắc nghiệt về hoàn cảnh gia đình đối với ông. Năm 1945, ông cưới người vợ thứ hai là Hứa Thị Mao (Bảy Nho), đảng viên chi bộ thị xã, từng bị tù đày ở Bà Rá năm 1939. Năm 1943, mãn hạn tù, ông được đưa về quản thúc ở Bến Tre. Mặc dù sức khỏe còn yếu, nhưng ông đã nhanh chóng bắt liên lạc với những đảng viên còn lại ở Ba Tri để củng cố tổ chức Đảng, tái lập Quận ủy Ba Tri, đồng thời móc nối lại với các cơ sở Đảng ở Châu Thành, Sóc Sãi, Thạnh Phú và tỉnh lỵ Bến Tre để phối hợp hành động.

Tháng 2/1944, Quận ủy Ba Tri tổ chức cuộc họp ở Giồng Chuối (nay là Ấp 5 xã An Đức, huyện Ba Tri) có sự tham dự của đại biểu Thạnh Phú, Mỏ Cày, Sóc Sãi. Hội nghị đã thống nhất tổ chức một bộ phận lãnh đạo trung tâm, lấy tên là “Ủy ban sáng kiến” do Nguyễn Tầu lãnh đạo. Tháng 12/1944, Ủy ban sáng kiến đã triệu tập các Quận ủy về họp tại làng Phước Long (nay thuộc Giồng Trôm) cử ra Tỉnh ủy lâm thời; gồm các ông Nguyễn Tẩu, Lê Hợi, Nguyễn Phục Hưng, Nguyễn Văn Khải, Võ Châu Thành, Nguyễn Văn Mẫu, Hồ Vinh và Phạm Hữu Di (Mười Di), do ông Nguyễn Tẩu làm Bí thư để thống nhất lãnh đạo phong trào. Trong khi đó, do chưa liên lạc được với các đồng chí trong Tỉnh ủy lâm thời, ông Trần Văn Giàu - Bí thư Xứ ủy Nam kỳ lâm thời đã thành lập ở tỉnh lỵ Bến Tre một Tỉnh ủy lâm thời do ông Đỗ Văn Khuyến làm Bí thư.

Tháng 4/1945, hội nghị thống nhất hai Tỉnh ủy lâm thời thành Tỉnh ủy chính thức được tiến hành theo chỉ đạo của ông Dương Khuy, đại diện Xứ ủy Nam kỳ và bầu Ban chấp hành do ông Nguyễn Tẩu làm Bí thư. Việc thống nhất hai Tỉnh ủy có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện sự đoàn kết, cùng tập trung vào nhiệm vụ chung của Đảng bộ là lãnh đạo nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Trong Cách mạng tháng Tám, với vai trò Bí thư Tỉnh ủy, phụ trách Ủy ban khởi nghĩa, nắm lấy lực lượng vũ trang, Nguyễn Tẩu đã lãnh đạo các lực lượng cách mạng làm cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thành công vào chiều ngày 25/8/1945. Sau đó, ông được phân công làm Trưởng Quốc gia tự vệ cuộc (tức công an ngày nay) và được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên cùng với các ông Phạm Văn Bạch, Đỗ Phát Quang, Nguyễn Văn Cái và Trần Quế Tử.

Đầu năm 1946, quân Pháp tái chiếm Bến Tre, Nguyễn Tẩu được chuyển sang phụ trách Tỉnh đội Bộ Dân quân.

Năm 1951, ông được điều về Trung ương Cục miền Nam, phụ trách công tác nông thôn, sau đó chuyển qua công tác tổ chức.

Sau Hiệp định Genève, Nguyễn Tẩu tập kết ra Bắc, được cử đi học bổ túc văn hóa và chính trị. Sau đó, ông được bố trí giữ nhiều chức vụ khác nhau như: Đội trưởng Đội Sản xuất chống đói, Bí thư Chi bộ Đảng thuộc tỉnh Ninh Bình (1955), Phó ban Thanh tra Bộ Nội thương (1956 - 1959), Cục phó Cục Muối Bộ Nội thương (1959 - 1961), Cục phó Quản lý nhà đất Phủ Thủ tướng (1961 - 1963), Cục phó Quản lý nhà đất Bộ Nội vụ (1963 - 1970). Năm 1971, ông nghỉ hưu. Ông mất ngày 8/12/1978 tại thị xã Bến Tre (thành phố Bến Tre).

Hơn 70 năm tuổi đời với trên 50 năm hoạt động cách mạng, Nguyễn Tẩu đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Đối với Bến Tre, ông có nhiều công lao trong việc chủ động củng cố lại các tổ chức cơ sở Đảng, các quận ủy, rồi tái thành lập Tỉnh ủy Bến Tre bị tan rã sau khởi nghĩa Nam kỳ. Nhạy bén chính trị, chủ động tiến công, trong khi chưa liên lạc được với Xứ ủy Nam kỳ, ông đã khẩn trương xây dựng, tập hợp lực lượng, chuẩn bị đón thời cơ. Nhờ đó, khi tình thế cách mạng đến, được chỉ đạo của Xứ ủy, đã có đủ thực lực, ông chớp thời cơ, dũng cảm lãnh đạo cướp chính quyền tháng 8/1945. Đồng thời, Nguyễn Tẩu cũng là người có công trong xây dựng lực lượng công an, bộ đội tỉnh Bến Tre trong buổi đầu vừa giành được chính quyền đây mới mẻ và gian khó. Dù ở trong hoàn cảnh nào, ông cũng luôn thể hiện tinh thần lạc quan, nêu cao ý chí kiên trung, dũng cảm, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng, là tấm gương sáng cho hôm nay và cả mai sau học tập, noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn