ĐỒNG CHÍ NGUYỄN THỊ MINH KHAI - BIỂU TƯỢNG KIÊN TRUNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945
Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai (1910 – 1941), tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, là một trong những nữ chiến sĩ cộng sản đầu tiên và là nhà lãnh đạo tiền bối của cách mạng Việt Nam trước năm 1945. Tham gia hoạt động từ năm 1927 trong tổ chức Tân Việt Cách mạng đảng, đồng chí lần lượt công tác tại Trung Quốc, Liên Xô và được cử làm đại biểu chính thức đọc tham luận tại Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản vào năm 1935 tại Moscow. Đầu năm 1937, đồng chí trở về nước hoạt động tại Xứ ủy Nam Kỳ, sau đó đảm
ĐỒNG CHÍ NGUYỄN THỊ MINH KHAI - BIỂU TƯỢNG KIÊN TRUNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, góp phần đặt nền móng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong số đó, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam. Với ý chí cách mạng sắt đá, người nữ chiến sĩ cộng sản kiên trung đã cống hiến trọn vẹn tuổi xuân và cuộc đời mình cho sự nghiệp giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và hoạt động của Đảng trên trường quốc tế.
Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai tên khai sinh là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ngay từ khi còn trẻ, đồng chí đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và tích cực tham gia các phong trào yêu nước tại địa phương. Năm 1927, đồng chí tham gia Hội Hưng Nam, sau này là Tân Việt Cách mạng đảng, đồng thời đảm nhiệm công tác vận động phụ nữ. Đến năm 1929, đồng chí thoát ly hoạt động cách mạng, tham gia Đông Dương Cộng sản Đảng, sau đó trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và được giao thực hiện công tác tuyên truyền, xây dựng tổ chức tại khu vực Vinh - Bến Thủy.
Năm 1930, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai được Đảng cử sang Hương Cảng (Trung Quốc) công tác tại Văn phòng Phương Nam của Bộ Phương Đông thuộc Quốc tế Cộng sản. Trong thời gian hoạt động tại đây, đồng chí được Nguyễn Ái Quốc trực tiếp hướng dẫn, bồi dưỡng về lý luận chính trị và giao thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng trong công tác liên lạc, kết nối phong trào cách mạng. Từ năm 1931 đến năm 1933, đồng chí bị chính quyền Anh bắt giam nhưng vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản. Sau khi được trả tự do, đồng chí tiếp tục hoạt động tại Thượng Hải, tham gia Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng do đồng chí Lê Hồng Phong phụ trách. Năm 1935, đồng chí cùng đồng chí Lê Hồng Phong tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva (Liên Xô). Tại Đại hội, đồng chí trình bày tham luận phản ánh tình hình Đông Dương, lên án chính sách thống trị của thực dân Pháp và khẳng định vai trò của phụ nữ trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đầu năm 1937, sau khi hoàn thành chương trình học tại Trường Đại học Cộng sản của những người lao động phương Đông ở Liên Xô, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai trở về nước và được phân công công tác tại Xứ ủy Nam Kỳ. Trước sự đàn áp ngày càng quyết liệt của chính quyền thực dân khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí được giao giữ cương vị Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Trên cương vị này, đồng chí trực tiếp chỉ đạo phong trào công nhân, phong trào phụ nữ và duy trì hoạt động của các cơ sở cách mạng trong điều kiện hết sức khó khăn. Mặc dù hoàn cảnh cá nhân nhiều mất mát, đồng chí vẫn kiên trì bám sát cơ sở, cùng Xứ ủy Nam Kỳ chuẩn bị các điều kiện cho cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940.
Ngày 30 tháng 7 năm 1940, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn. Trong thời gian bị giam giữ và tra tấn tại bót Catinat rồi Khám Lớn Sài Gòn, đồng chí luôn giữ vững ý chí cách mạng, kiên quyết bảo vệ bí mật của Đảng và không khuất phục trước mọi thủ đoạn của kẻ thù. Sau đó, sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941, tại trường bắn Hóc Môn (Gia Định), đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai hiên ngang bước ra pháp trường, hô vang khẩu hiệu cách mạng trước khi anh dũng hy sinh.
Cuộc đời hoạt động cách mạng và sự hy sinh của đồng chí đã trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, tinh thần kiên trung và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Những cống hiến to lớn của đồng chí được Đảng và Nhân dân trân trọng ghi nhận. Tên tuổi của đồng chí được đặt cho nhiều tuyến đường, trường học, đơn vị và công trình trên cả nước, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng và bồi đắp lý tưởng cống hiến cho các thế hệ hôm nay và mai sau.


