Đồng chí Nguyễn Văn Nhượng
Ông Nguyễn Văn Nhượng (bí danh Hùng Việt, 1913–2006), quê Tân Đông, Sa Đéc (nay thuộc xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp), xuất thân từ gia đình nông dân nghèo và sớm tham gia cách mạng. Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông tham gia quân đội, trải qua nhiều vị trí chỉ huy và chính trị trong các đơn vị thuộc Quân khu 8, trực tiếp tham gia nhiều trận chiến trên chiến trường Nam Bộ. Sau năm 1976, ông giữ chức Chính uỷ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp và là đại biểu Quốc hội khóa V
Ông Nguyễn Văn Nhượng, bí danh Hùng Việt, sinh năm 1913, quê làng Tân Đông, tổng An Thanh Hạ, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc xã Tân Khánh Đông, thành phô Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp).
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, 9 tuổi ông đã mồ côi cha, 16 tuổi học xong lớp 3 trường làng phải nghỉ học để làm tiếp mẹ nuôi hai em gái nhỏ.
Ông tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làm Đoàn trưởng Thanh niên Tiền phong xã. Tháng oI/1946, ông được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Cách mạng xã. Quân Pháp trở lại chiếm đóng Sa Đéc, ông gia nhập Vệ Quốc đoàn, làm thư ký rồi quản lý Trung đội 1, Đại đội I, Chi đội
18. Tháng 5/1947, ông được đề bạt làm Trung đội trưởng Trung đội B, Đại đội 1o3o, Trung đoàn 1I5.
Tháng 9/1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ tháng 12/1947 đến tháng 10/1948, ông được cử đi học Trường Lục quân Gia Định. Ra trường trở về đơn vị ông làm Đại đội phó, rồi Đại đội trưởng Đại đội I035, Trung đoàn 115. Năm 1950, ông được phân công làm cán bộ tác huấn Ban Tham mưu Trung đoàn, sau đó được rút về làm cán bộ tác huân Phòng Tham mưu Quân khu 8.
Từ tháng 12/1950 đến tháng 10/1953, ông được điều động về làm Đại đội trưởng Đại đội 947, Tiểu đoàn 311, Trung đoàn Đồng Tháp, được cử làm Phó Bí thư chi bộ, rồi Huyện đội trưởng, Huyện uy viên huyện Tân Hồng, tỉnh
Long Châu Sa.
Năm 1954, tập kết ra Bắc, đến đầu năm 1956, ông theo học Trường Lục quân, ra trường được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 3, Sư đoàn 330. Tháng 10/196I, ông chuyển qua Sư đoàn 338, làm cán bộ Phòng Chính trị Sư đoàn, được phong quân hàm Đại úy.
Đầu năm 1963, ông đi học lớp chính trị Trung - Cao, rồi được bố trí vào Đoàn 6o2 trở về miền Nam, được Bộ Chỉ huy Miền phân công làm Trợ lý cán bộ Cục Chính trị.
Cuối năm 1965, ông được điều về Quân khu 8 và Tinh đội Kiến Phong, làm Trưởng ban Chính trị Tỉnh đội, được bổ sung vào Tỉnh uy. Đến tháng o1/1974, ông được Quân khu 8 rút về và bổ nhiệm làm Chính uy đoàn 652, Phó Chủ
Trong 34 năm ở quân đội, ông đã trực tiếp tham gia và phôi hợp chỉ huy đơn vị chiên đầu hàng trăm trận trên chiến trường Sa Đéc, Long Châu Sa, Kiến Phong, Khu 8 và tuyến biên giới Tây Nam, lập được nhiều chiên công xuất sắc.
Ông được Đảng và Nhà nước tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Quyết thắng, Huân chương Kháng chiên hạng Nhất, Huân chương Giải
nhiệm Cục Chính trị Quân khu.
Ngày 30/12/1976, ông giữ chức vụ Chính uỷ Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Tháp, được bổ sung vào Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, được bầu vào Quốc hội khóa VI.
Năm 1979, ông được phong quân hàm Thượng tá. Năm 198o, ông nghỉ hưu về sông ở quê nhà xã Tân Khánh Đông, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
phóng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.
Ông là một cán bộ Đảng, một sĩ quan chỉ huy gương mẫu, nghiêm khắc, sống liêm khiết, giản dị, khiêm tôn, được mọi người kính trọng và yêu mến.
Ngày 08/12/2006, ông qua đời do bệnh nặng, an táng tại quê nhà (xã Tân Khánh Đông, thành phô Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp).



