Đồng chí Phạm Hùng - người chiến sĩ cộng sản kiên trung, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, của quê hương Vĩnh Long
Đồng chí Phạm Hùng tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11-6-1912, tại ấp Long Thiềng, làng Long Hồ, tổng Bình Long, huyện Vĩnh Bình, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc ấp Long Thuận A, xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, một vùng đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng.
Năm 1928, sau khi học xong ở trường tỉnh, đồng chí sang học Trường Trung học Mỹ Tho. Tại đây, đồng chí tham gia hoạt động trong phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên. Năm 1930, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó làm Bí thư Chi bộ Trường học. Năm 1931, đồng chí được Đảng tin cậy giao trọng trách làm Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho khi vừa tròn 19 tuổi. Lúc này, phong trào cách mạng của nhân dân địa phương chống chính quyền thực dân Pháp đã phát triển rộng khắp. Tháng 6-1931, đồng chí bị địch bắt giam ba năm (1931 - 1933) ở Mỹ Tho và Sài Gòn, sau đó bị kết án tử hình trong “vụ án những người cộng sản” nổi tiếng ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Do phong trào đấu tranh của nhân dân ta và các lực lượng tiến bộ Pháp đòi ân xá tù chính trị, đồng chí được giảm từ án tử hình xuống án chung thân khổ sai và bị đày ra nhà tù Côn Đảo.
Sống trong cảnh tù đày vô cùng tàn bạo ở “địa ngục trần gian” Côn Ðảo, đồng chí Phạm Hùng luôn nêu cao khí tiết của người chiến sĩ cộng sản trước kẻ thù và luôn lạc quan, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng. Là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của phong trào đấu tranh ở nhà tù Côn Ðảo, nhiều năm làm Bí thư Ðảo ủy, đồng chí cùng Chi bộ tù nhân cộng sản đã biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, tổ chức học tập lý luận về chủ nghĩa cộng sản để nâng cao nhận thức của tù nhân và tuyên truyền giác ngộ binh lính, cai tù, giám thị. Ðồng chí đã lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù để giành sự sống cho tù nhân, đòi giảm nhẹ khổ sai, cải thiện chế độ nhà tù và nhiều lần dũng cảm xả thân chịu đòn thay cho đồng chí của mình. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng nhận xét: “Phạm Hùng đã vượt qua mọi thách đố, hơn thế nữa, là người sẵn sàng sống chết với tinh thần nghĩa hiệp, che chở cho đồng chí, che chở cho người yếu đuối. Chính môi trường này làm bật sáng khí phách của một Phạm Hùng, dám đưa lưng đỡ đòn cho bè bạn một cách dứt khoát đến nỗi bọn cai ngục phải nể sợ”(1).
Trải qua gần 15 năm bị tù đày trong lao tù đế quốc, hết xà lim án chém đến “địa ngục trần gian” Côn Ðảo, biết bao hình phạt tàn khốc của kẻ thù vẫn không thể nào khuất phục được người chiến sĩ cộng sản có “dạ sắt, gan đồng”. Tấm gương đồng chí Phạm Hùng, một chiến sĩ cộng sản hiên ngang, bất khuất, nghĩa hiệp đã trở thành biểu tượng của ý chí và nghị lực phi thường của một thế hệ thanh niên Việt Nam yêu nước, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và lý tưởng cộng sản.
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được Đảng đón từ Côn Đảo về tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Nam suốt chín năm liền với các trọng trách: Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, rồi Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam kiêm Bí thư và Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Phân liên khu Đông Nam Bộ, Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ.
Từ năm 1956 cho đến khi qua đời (năm 1988), đồng chí là một trong những nhà lãnh đạo quan trọng của Đảng với các trọng trách: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Chính ủy Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại biểu Quốc hội nhiều khóa, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng của Quốc hội khóa VIII, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí Phạm Hùng luôn nêu cao tinh thần cách mạng cao quý, gian nan không lùi bước, nguy hiểm không sờn lòng, sẵn sàng hy sinh tất cả vì nước, vì dân, giữ vững niềm tin ở thắng lợi cuối cùng. Bất chấp gông cùm và những đòn tra tấn của nhà tù đế quốc, bất chấp hoàn cảnh gian khổ và ác liệt của chiến trường miền Nam, nhất là những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí luôn bền gan chiến đấu, thể hiện lòng dũng cảm và nghị lực phi thường.



