Khác

Đồng chí Phạm Văn Đồng

Một nhà cách mạng kiên trung, một nhà lãnh đạo có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước và là người học trò, người cộng sự thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quảng Ngãi20/10/2026Chi đoàn THCS Đặng Tấn Tài (Phường Phước Long)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Phạm Văn Đồng sinh ngày 1 tháng 3 năm 1906 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ông sinh ra trong một gia đình trí thức, lớn lên giữa khung cảnh làng quê miền Trung bình dị, nơi có những cánh đồng, dòng sông và những con đường làng thân thuộc. Em tưởng tượng vào mỗi buổi sáng, ánh nắng nhẹ nhàng trải xuống những mái nhà, tiếng chim vang lên giữa những hàng cây xanh và người dân bắt đầu công việc thường ngày. Tuy nhiên, đất nước lúc bấy giờ vẫn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cuộc sống của nhân dân còn nhiều khó khăn. Chính hoàn cảnh ấy đã góp phần nuôi dưỡng trong người thanh niên Phạm Văn Đồng tình yêu quê hương và khát vọng đấu tranh cho một đất nước độc lập, tự do.

Từ nhỏ, Phạm Văn Đồng đã là người ham học, thông minh và có tinh thần ham hiểu biết. Trong những năm học tại Huế và Hà Nội, ông có cơ hội tiếp xúc với nhiều sách báo tiến bộ, đồng thời chứng kiến phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên. Những năm 1925–1926, ông tham gia các phong trào bãi khóa, đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh. Trong trái tim người thanh niên ấy luôn cháy lên mong muốn góp sức mình để nhân dân được sống trong tự do và hạnh phúc.

Năm 1926, Phạm Văn Đồng sang Quảng Châu, Trung Quốc, tham gia lớp huấn luyện cán bộ do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và giảng dạy. Tại đây, ông được tiếp cận với những tư tưởng cách mạng tiến bộ và hiểu rõ hơn con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Ông được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng.

Sau khi trở về nước, Phạm Văn Đồng tiếp tục hoạt động cách mạng tại Nam Kỳ. Ông tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng và tham gia xây dựng tổ chức cách mạng. Tháng 3 năm 1929, ông được bầu làm Bí thư Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Công việc cách mạng lúc bấy giờ vô cùng nguy hiểm, bởi thực dân Pháp luôn tìm cách theo dõi, bắt giữ những người tham gia phong trào yêu nước. Tuy vậy, ông vẫn kiên trì thực hiện nhiệm vụ, không lùi bước trước khó khăn.

Tháng 7 năm 1929, Phạm Văn Đồng bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn. Sau đó, ông bị kết án mười năm tù và đày ra Côn Đảo. Đây là nơi giam giữ nhiều chiến sĩ cách mạng, nơi tù nhân phải chịu đựng điều kiện sống vô cùng khắc nghiệt. Thế nhưng, nhà tù không thể làm người chiến sĩ ấy từ bỏ lý tưởng của mình. Ngay trong hoàn cảnh bị giam cầm, ông vẫn giữ vững tinh thần, tích cực học tập và trao đổi kiến thức với các đồng chí.

Giữa năm 1936, Phạm Văn Đồng được trả tự do và trở lại Hà Nội để tiếp tục hoạt động cách mạng. Dù còn chịu sự quản thúc của chính quyền thực dân, ông vẫn tìm cách liên lạc với tổ chức và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình. Đến tháng 5 năm 1940, ông được cử sang Côn Minh, Trung Quốc, làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tại đây, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tiếp tục tham gia các hoạt động chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập.

Năm 1941, Phạm Văn Đồng trở về Cao Bằng hoạt động cách mạng, tham gia xây dựng lực lượng, vận động nhân dân và chuẩn bị các điều kiện cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong những ngày tháng ấy, ông cùng các đồng chí làm việc giữa núi rừng, vượt qua những khó khăn về nơi ở, lương thực và điều kiện sinh hoạt. Dù cuộc sống còn nhiều gian khổ, ông vẫn luôn nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, bởi ông hiểu rằng mỗi công việc chuẩn bị đều có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh đất nước.

Tháng 8 năm 1945, Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đây là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, mở ra thời kỳ mới của đất nước độc lập. Phạm Văn Đồng được giao nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng. Ông tham gia công việc xây dựng chính quyền, góp phần tổ chức và điều hành các hoạt động của Nhà nước non trẻ. Tuy nhiên, đất nước lúc bấy giờ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, từ nạn đói, nạn dốt đến nguy cơ chiến tranh quay trở lại. Trước tình hình ấy, ông cùng các đồng chí lãnh đạo nỗ lực tìm cách vượt qua thử thách, bảo vệ nền độc lập vừa giành được.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Phạm Văn Đồng tiếp tục đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đặc biệt, năm 1954, ông được giao làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương. Đây là hội nghị quốc tế có ý nghĩa lớn đối với cuộc đấu tranh giành hòa bình của nhân dân Việt Nam. Trên bàn đàm phán, ông cùng các thành viên trong đoàn phải làm việc trong điều kiện hết sức căng thẳng, đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến tương lai đất nước.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước tiếp tục bước vào giai đoạn đấu tranh lâu dài để thống nhất hai miền Nam – Bắc. Tháng 9 năm 1955, Phạm Văn Đồng được giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ. Trên cương vị này, ông cùng các đồng chí lãnh đạo phải giải quyết nhiều nhiệm vụ quan trọng trong điều kiện chiến tranh và đất nước còn nhiều khó khăn. Miền Bắc vừa phải khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất, xây dựng đời sống mới, vừa làm hậu phương cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

Trong suốt nhiều năm đảm nhiệm cương vị lãnh đạo Chính phủ, Phạm Văn Đồng luôn gắn bó với công việc xây dựng và phát triển đất nước. Ông quan tâm đến giáo dục, văn hóa, kinh tế và đời sống nhân dân. Dù phải làm việc trong hoàn cảnh đất nước trải qua chiến tranh và nhiều biến động, ông vẫn kiên trì thực hiện những nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Phạm Văn Đồng còn được nhiều người biết đến bởi lối sống giản dị, khiêm nhường và phong cách làm việc gần gũi. Ông là người học trò, người cộng sự thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn quan tâm học tập tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Trong cuộc sống, ông chú trọng việc học tập, nghiên cứu và suy nghĩ sâu sắc về những vấn đề của đất nước. Những phẩm chất ấy đã khiến cuộc đời Phạm Văn Đồng trở thành tấm gương đáng quý đối với các thế hệ sau.

Năm 1987, sau nhiều năm đảm nhiệm cương vị đứng đầu Chính phủ, Phạm Văn Đồng thôi giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Từ năm 1986 đến năm 1997, ông tiếp tục đảm nhiệm vai trò Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đóng góp kinh nghiệm và trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước. Dù tuổi đã cao, ông vẫn quan tâm đến những vấn đề quan trọng của dân tộc.

Ngày 29 tháng 4 năm 2000, đồng chí Phạm Văn Đồng qua đời, hưởng thọ 94 tuổi. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương đối với nhiều người dân Việt Nam. Nhìn lại cuộc đời ông, em càng hiểu rằng có những con người tuy đã rời xa chúng ta nhưng những đóng góp và bài học mà họ để lại vẫn còn nguyên giá trị. Từ một thanh niên yêu nước tham gia phong trào cách mạng, trải qua những năm tháng tù đày gian khổ, đến một nhà lãnh đạo giữ nhiều trọng trách của đất nước, Phạm Văn Đồng đã dành hơn bảy mươi năm hoạt động cách mạng để cống hiến cho dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đồng chí Phạm Văn Đồng | Câu chuyện thời hoa lửa