Bài viết

Đồng chí Phạm Văn Đồng - Một nhân cách lớn, trọn đời vì nước, vì dân (1)

Đồng chí Phạm Văn Đồng - Một nhân cách lớn, trọn đời vì nước, vì dân

Thái Nguyên17/07/2026Liên đội trường Tiểu học Đồng Tiến (Liên đội trường Tiểu học Đồng Tiến)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Lò luyện thép" Côn Đảo và bản lĩnh người cộng sản

Nếu Quảng Châu là nơi gieo mầm lý luận, thì ngục tù thực dân chính là "lò luyện thép" đã trui rèn nên bản lĩnh của người cộng sản Phạm Văn Đồng. Tháng 7/1929, giữa lúc hoạt động cách mạng tại Nam Kỳ đang khẩn trương, ông bị mật thám Pháp bắt giữ tại ga Sài Gòn. Tại cơ quan cảnh sát, kẻ thù đã đưa ra tấm ảnh ông chụp tại Quảng Châu cùng bản báo cáo mật đã bị lộ để uy hiếp. Thế nhưng, đứng trước họng súng và sự xảo quyệt của kẻ thù, ông vẫn giữ thái độ bình tĩnh, thừa nhận lý tưởng mình theo đuổi nhưng tuyệt đối bảo vệ tổ chức.Ngày 25/6/1930, tòa án thực dân tuyên án ông 10 năm tù giam và đày ra Côn Đảo. Tại đây, ông bị giam giữ tại Banh 2 - nơi nổi tiếng với chế độ cầm cố khắc nghiệt, mỗi ngày tù nhân chỉ được ra ngoài 10 phút để ăn bát cơm hẩm đầy sạn. Thiếu ánh sáng, khí trời và dinh dưỡng khiến nhiều đồng chí hy sinh vì bệnh tật, nhưng Phạm Văn Đồng vẫn kiên cường đứng vững. Trong bóng tối của xiềng xích, ông đã tích cực tham gia dạy văn hóa, chính trị và ngoại ngữ cho các đồng chí của mình. Với tư chất thông minh và giỏi tiếng Pháp, ông trực tiếp lược dịch, tóm tắt các tác phẩm kinh điển của C. Marx và F. Engels để giảng giải cho anh em.Hình ảnh một người tù cao gầy, da ngăm đen, luôn cắp sau lưng cuốn sách đã trở thành biểu tượng của trí tuệ và niềm tin trong khám tù lạnh lẽo. Ông không chỉ dạy chữ, dạy lý luận mà còn dạy bản lĩnh sống. Ông cùng đồng chí Bùi Công Trừng phụ trách tờ tạp chí Ý kiến chung, viết tay trên giấy học trò để truyền bá tư tưởng cách mạng, giúp các chiến sĩ giữ vững ý chí chiến đấu.Bản lĩnh của Phạm Văn Đồng còn thể hiện qua những cuộc đấu tranh trực diện với bọn cai ngục. Ông được bầu vào ban lãnh đạo Banh 2, luôn đi đầu trong các cuộc tuyệt thực, đấu tranh đòi cải thiện chế độ giam cầm và đòi đặc xá tù chính trị. Tinh thần thép của ông không chỉ làm kẻ thù khiếp sợ mà còn cảm hóa được cả những người tù thuộc các xu hướng chính trị khác, khiến họ dần ngả theo lập trường vô sản.7 năm bị đày ải (1929-1936) đã làm sức khỏe ông suy kiệt, bệnh phổi tái phát, nhưng lại làm tâm hồn và trí tuệ ông trở nên sắc bén hơn bao giờ hết. Côn Đảo không khuất phục được ông, ngược lại, nó đã tôi luyện nên một nhà lãnh đạo bản lĩnh, mẫn cán và đầy nhân văn, sẵn sàng cho những trọng trách lớn lao của dân tộc sau này. Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các chiến sĩ công an nhân dân trong ngày ngành Công an đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (5/1/1980). Ảnh tư liệu TTXVN"Người đầy tớ trung thành" của nhân dânNăm 1955, giữa bộn bề công việc của một quốc gia vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ. Suốt 32 năm trên cương vị này (1955-1987) - một kỷ lục trong lịch sử chính trị hiện đại Việt Nam - ông đã điều hành bộ máy hành chính, với tinh thần làm việc không mệt mỏi, thực hiện những quyết sách mang tính chiến lược, dẫn dắt dân tộc qua hai thời kỳ: Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Xây dựng và tìm đường đổi mới kinh tế.Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, hình ảnh vị Thủ tướng dáng người thanh mảnh, mặc bộ quần áo kaki sờn bạc màu, có mặt tại các công trường, nhà máy hay những vùng quê bị bom đạn cày xới đã trở nên quá đỗi quen thuộc. Ông không ngồi yên trong phòng làm việc để nghe báo cáo mà đi vào thực tiễn để lắng nghe hơi thở của đời sống. Ông luôn nhắc nhở cán bộ: Phải tiến hành đồng thời việc đổi mới công tác quản lý kinh tế với công tác quần chúng... Với ông, mọi chính sách nếu không xuất phát từ lợi ích của nhân dân và không được nhân dân ủng hộ thì chỉ là những con chữ khô khan trên giấy.Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển mình đầy khó khăn của đất nước sau năm 1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thể hiện một tầm nhìn đổi mới sắc sảo. Tại các phiên họp của Hội đồng Bộ trưởng, ông luôn nhấn mạnh vào việc phá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp để giải phóng sức sản xuất. Ông là người cổ vũ mạnh mẽ cho những "khoán mới" trong nông nghiệp, những thử nghiệm đổi mới trong công nghiệp. Bản lĩnh của ông nằm ở chỗ dám nhìn thẳng vào những sai lầm, khuyết điểm của bộ máy và kiên quyết tìm đường ra cho nền kinh tế dân tộc.Nhưng có lẽ, điều khiến nhân dân nhớ về ông nhiều nhất chính là sự giản dị và lòng nhân ái bao la. Dù ở vị trí đỉnh cao quyền lực, ông vẫn giữ một nếp sống thanh bạch. Căn nhà của ông đơn sơ, bữa ăn đạm bạc, và hơn hết là thái độ tôn trọng tuyệt đối dành cho mọi tầng lớp nhân dân. Ông dành sự quan tâm đặc biệt cho ngành giáo dục và y tế - hai trụ cột mà ông coi là nền tảng của một quốc gia văn minh. Mỗi lần đi thăm các trường học hay bệnh viện, ông không chỉ kiểm tra công việc mà còn ân cần hỏi han điều kiện sống của từng giáo viên, bác sĩ và các em nhỏ.Trong quan hệ với các lãnh đạo các bộ, ngành, ông vừa là một vị chỉ huy nghiêm khắc về kỷ luật, vừa là một người anh, người đồng chí chân thành. Ông kiên quyết chống lại thói quan liêu, cửa quyền, coi đó là "kẻ thù nội xâm" tàn phá niềm tin của nhân dân vào chế độ. Đối với ông, chức vụ Thủ tướng không phải là quyền lực để hưởng thụ, mà là trọng trách lớn lao do nhân dân tin tưởng ủy thác và mong đợi.32 năm ở vị trí "đầu sóng ngọn gió", trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã để lại một di sản đồ sộ: Một nền hành chính phục vụ, một tư duy đổi mới quyết liệt và hơn hết là hình ảnh một "người đầy tớ trung thành" của nhân dân. Thủ tướng Phạm Văn Đồng chụp hình lưu niệm với các cá nhân tiêu biểu về dự Hội nghị Văn hóa các dân tộc thiểu số toàn quốc lần đầu tiên. Ảnh tư liệu

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn