đồng chí Phan Đăng Lưu
Đồng chí Phan Đăng Lưu (1902–1941) là nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối tiêu biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông sinh ngày 5/5/1902 tại thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước. Từ khi còn trẻ, ông đã sớm tiếp thu tư tưởng tiến bộ, nuôi dưỡng lòng yêu nước và quyết tâm đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
Sau khi tốt nghiệp Trường Canh nông thực hành ở Tuyên Quang, Phan Đăng Lưu làm việc trong ngành nông nghiệp, rồi tham gia Hội Phục Việt, tổ chức yêu nước sau này phát triển thành Đảng Tân Việt. Ông tích cực xây dựng cơ sở cách mạng, tham gia hoạt động báo chí, tuyên truyền và truyền bá tư tưởng tiến bộ. Năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án tù và đày đến nhà tù Buôn Ma Thuột. Trong hoàn cảnh lao tù khắc nghiệt, ông vẫn kiên trì hoạt động, giữ vững tinh thần đấu tranh cách mạng.
Sau khi được trả tự do năm 1936, ông tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia lãnh đạo phong trào dân chủ 1936–1939 và có nhiều đóng góp trong công tác tư tưởng, báo chí, văn hóa, văn nghệ. Năm 1939, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sau đó tham gia Ban Thường vụ Trung ương và đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng trong phong trào cách mạng. Ông góp phần củng cố tổ chức Đảng, xây dựng lực lượng và chuẩn bị cho phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Năm 1940, Phan Đăng Lưu bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Ngày 26/8/1941, ông bị xử bắn tại Hóc Môn, Gia Định, khi mới 39 tuổi. Sự hy sinh của ông thể hiện tinh thần kiên trung, bất khuất và lòng tận tụy với sự nghiệp giải phóng dân tộc.


