Anh hùng Lực lượng vũ trang

“Đồng chí Phan Đăng Lưu - một trí thức cách mạng tiêu biểu”

Đó là lời nhận xét của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn trong chuyến đến thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam năm 1959, trước ảnh đồng chí Phan Đăng Lưu, tại gian trưng bày ảnh các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng ta.

Nghệ An20/08/2026Đoàn xã Bảo Lâm 3 (Bảo Lâm 3)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Phan Đăng Lưu, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1902 trong một gia đình nhà nho yêu nước tại tại thôn Đông, xã Tràng Thành, nay là xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. 

Anh-tin-bai

Chân dung nhà cách mạng tiền bối Phan Đăng Lưu. Ảnh tư liệu

Đồng chí Phan Đăng Lưu học chữ Hán từ năm lên 6 tuổi, gần 10 năm sau bắt đầu học tiếng Pháp ở nhà và ở Trường Tiểu học Pháp – Việt thị xã Vinh. Khi bước vào con đường cách mạng, Ông đã rất thành thạo tiếng Pháp, giỏi chữ Hán, Bạch thoại, biết cả tiếng Êđê. Đặc biệt ngoài học giỏi, đồng chí Phan Đăng Lưu còn giỏi làm thơ, câu đối...

Ngay từ những năm tháng tuổi trẻ học đường, Phan Đăng Lưu đã thể hiện được tư chất thông minh, khả năng, thành tích xuất sắc trong học tập và rèn luyện. Trong quá trình học tập, Phan Đăng Lưu luôn có những phát kiến mang tầm nhìn của một chiến sĩ tiên phong, thời đại. Với mục tiêu và tinh thần, ý chí học tập, rèn luyện không ngừng nghỉ, tháng 3/1923, Phan Đăng Lưu đã xuất sắc tốt nghiệp với tấm bằng hạng ưu. Đây là nền tảng quan trọng, là nét khác biệt, nổi bật trong suốt thời trai trẻ của Phan Đăng Lưu. Sau khi tốt nghiệp Trường Canh nông, Phan Đăng Lưu vào làm việc ở trại nuôi tằm Thanh Ba, Phú Thọ. Mới đầu Phan Đăng Lưu rất chuyên tâm làm việc, nhưng sau một thời gian thì hoàn toàn thất vọng vì đồng chí nhận ra rằng làm một công chức dưới chế độ thực dân không thì không thể thực hiện được hoài bão cứu nước, cứu dân. Từ đó Phan Đăng Lưu tìm cách chuyển về Nghệ An để tập trung nghiên cứu môn khoa học chính trị - xã hội.

Tại Vinh, Phan Đăng Lưu gia nhập Hội Phục Việt (cuối năm 1925), trở thành người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tuyên truyền tri thức tiến bộ cho quần chúng nhân dân; mở lớp học cho thợ thuyền ở Vinh, Bến Thủy, cho học sinh, thanh niên trí thức Trường Quốc học Vinh; cùng các đồng chí trong Hội Phục Việt đòi thực dân Pháp trả lại tự do cho nhà chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu; tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh, phát triển phong trào đấu tranh yêu nước rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.

Với nền tảng học thuật uyên bác, thạo chữ Hán, giỏi tiếng Pháp, tháng 5/1928 Phan Đăng Lưu được Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Đảng điều động từ Nghệ An vào Huế để bổ sung vào Ban Biên tập của Quan Hải Tùng Thư. Từ năm 1927 đến đầu năm 1928, với tư cách là Thường vụ Đảng Tân Việt phụ trách tuyên truyền huấn luyện, Phan Đăng Lưu cùng các đồng nghiệp trong Nhà Xuất bản Quan hải tùng thư đã dịch và biên soạn nhiều tài liệu quý như A, B, C Chủ nghĩa Mác; Dân chủ mới; dịch các cuốn Xã hội luận, Lịch sử các học thuyết kinh tế.

Đặc biệt, trong thời gian bị địch bắt và kết án khổ sai, đi đày ở nhà tù Buôn Mê Thuột (từ năm 1929 đến năm 1936), trong điều kiện hết sức khắc nghiệt, trước âm mưu chia rẽ, hòng phá vỡ truyền thống đoàn kết của dân tộc ta. Để tuyên truyền, giác ngộ tù nhân và binh lính người Êđê, Phan Đăng Lưu đã vượt qua nỗi đau thể xác, học và sử dụng thành thạo tiếng Ê Đê bí mật cho ra mắt tờ báo “Doãn Đê tù báo(Tờ báo trong tù cho người Kinh và Ê đê) và tờ  "Xích sinh", được dùng với hai thứ tiếng Kinh và Êđê, lưu hành bí mật trong tù. Ngoài ra, Phan Đăng Lưu còn viết nhiều bài báo bằng tiếng Pháp, bí mật gửi ra ngoài cho tờ Tiếng dân – tờ báo của xu hướng yêu nước, bênh vực người dân bị áp bức nhằm mục đích tố cáo sự tàn ác, hà khắc của chế độ nhà tù.

Mùa hè năm 1936, đồng chí Phan Đăng Lưu được trả tự do nhưng lại bị quản thúc ở Huế. Tại đây, Phan Đăng Lưu đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng chỉ đạo báo chí của Đảng, đồng chí cùng một số trí thức yêu nước đã sử dụng tờ "Sông Hương", để biến nó trở thành tiếng nói thông tin, cơ quan ngôn luận chính trị của Đảng nhằm tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng. Sau khi tờ báo "Sông Hương" bị đóng cửa, Phan Đăng Lưu nhanh chóng cho ra báo "Dân", rồi đến  "Dân Tiến", "Dân muốn"... Ngoài việc chỉ đạo báo chí trong cuộc đấu tranh trong Viện Dân biểu Trung Kỳ, Phan Đăng Lưu còn chỉ đạo Nhà xuất bản Tư tưởng, có trụ sở ở Đà Nẵng xuất bản những cuốn sách về dân tộc, về chủ nghĩa Mác - Lênin, về xã hội tư bản... Đồng chí còn là cây bút đấu tranh tiêu biểu, với hàng loạt bút danh: Sông Hương, Dân, Dân Muốn, Phi Bằng, Bằng Phi, Tân Cương, Lý Toét, BCH, QB, SH, Mục Tiêu, Thương Tâm, KĐ... Những bài viết của Phan Đăng Lưu đã trở thành vũ khí sắc bén có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần xây dựng nền móng của văn học, báo chí cách mạng; mở đường cho nền văn học - nghệ thuật phát triển.

Nhà lãnh đạo tài ba của Đảng

Sau khi bị thải hồi về quê (tháng 6/1927), Phan Đăng Lưu bắt đầu dồn hết cả tâm trí, sức lực vào hoạt động cách mạng ngay tại quê nhà, trở thành một chiến sĩ cách mạng chuyên nghiệp, chiến sĩ cộng sản bất khuất, kiên trung.

Tháng 7/1928, Phan Đăng Lưu được bầu vào Ủy viên Thường vụ Tổng bộ Đảng Tân Việt. Trên cương vị là Ủy viên Thường vụ Đảng Tân Việt, Phan Đăng Lưu có nhiều cống hiến trong việc định hướng việc hợp nhất các tổ chức cộng sản; hai lần đảm đương trách nhiệm sang Quảng Châu (Trung Quốc) để bàn việc hợp nhất tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng và tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội.

Sau khi được chỉ định vào Ban chấp hành lâm thời Xứ uỷ Trung Kỳ (tháng 8/1936), Phan Đăng Lưu đã góp phần có tính quyết định cùng bộ chỉ huy cao nhất của Đảng ở Trung Kỳ đưa phong trào cách mạng ở Trung Kỳ giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, nhất là phong trào Đông Dương đại hội mà Phan Đăng Lưu là người lãnh đạo trực tiếp.

Năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ; tình hình cách mạng trong nước vì thế cũng có nhiều biến động. Đồng chí Phan Đăng Lưu được Trung ương triệu tập vào Nam Kỳ. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu (11/1939), đồng chí được Trung ương phân công phụ trách phong trào cách mạng các tỉnh Nam Kỳ. Cùng với Xứ ủy Nam Kỳ, Phan Đăng Lưu đã đưa phong trào cách mạng phát triển lên một bước mới, đánh dấu bước phát triển toàn diện về tài năng và sức sáng tạo trong lãnh đạo cách mạng của đồng chí. Bước sang năm 1940, trước sự khủng bố, vây bắt của kẻ thù, nhiều đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương lần lượt bị bắt, giam cầm. Ban Chấp hành Trung ương chỉ còn lại một mình Phan Đăng Lưu, khó khăn, thử thách đặt lên vai đồng chí. Trước yêu cầu dân tộc giải phóng, chuẩn bị phát triển lực lượng vũ trang của Hội nghị Trung ương sáu, tháng 7/1940 Hội nghị Xứ ủy Nam Kỳ đã diễn ra để bàn kế hoạch khởi nghĩa của Xứ ủy. Sau 3 tháng chuẩn bị, tháng 11/1940, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy đã được nhóm họp do Phan Đăng Lưu chủ trì đã tái lập thành công Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Đây là thành công, là đóng góp to lớn nhất, có ý nghĩa chiến lược thể hiện tầm nhìn xa, thấy rộng và sáng suốt của Phan Đăng Lưu đối với Đảng và cách mạng nước ta.

Nhận nhiệm vụ trở lại Nam Kỳ truyền đạt quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do Trung ương giao phó nhưng chưa kịp truyền đạt thì đêm 20/11/1940, Phan Đăng Lưu bị mật thám Pháp bắt. Ngày 26/8/1941, thực dân Pháp tử hình đồng chí tại ngã ba Giồng, xã Tân Thới Thượng (Hóc Môn, Gia Định) (Thực dân Pháp tử hình cùng với đồng chí Nguyễn Văn Cừ). Đồng chí hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ nhưng khí tiết của người cộng sản, ngọn lửa cách mạng vẫn luôn âm ỉ cháy trong trái tim kiên cường, quật khởi của người chiến sĩ cách mạng trung kiên cho đến giây phút cuối cùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn