Đồng Chí Phan Văn Ba
Đồng Chí Phan Văn Ba

PHAN VĂN BA
(1914 - 1980 )
Phan Văn Ba (bí danh Ba Phiên) sinh ngày 9 tháng 7 năm 1914, quê quán ở làng Hậu Thành, huyện Cái Bè ( nay là tỉnh Đồng Tháp). Cha là ông Phan Văn Ngượt, sinh năm 1892 làm nghề thợ bạc; mẹ là Nguyễn Thị Huê, sinh năm 1893 làm nội trợ. Lúc còn nhỏ, ông Phan Văn Ba học ở trường Cái Bè đến lớp nhất rồi vào trường Trung học Mỹ Tho ( nay là trường Trung học phổ thông Nguyễn Đình Chiểu) niên khóa 1929 - 1933 Phan Văn Ba là một học sinh khá, chăm chỉ, nói tiếng Pháp thành thạo, sớm có ý thức giác ngộ lý tưởng cách mạng, ông tham gia cách mạng từ lúc còn là học sinh trường Trung học Mỹ Tho, trong phong trào của ông Phạm Hùng.
Năm 1930, ông được ông Nguyễn Ngọc Bích ( chồng bà Nguyễn Thị Định) và Nguyễn Ngọc Lựu giới thiệu vào Đảng. Trong quá trình hoạt động cách mạng ở trường, ông bị phát hiện, bị đuổi học và đưa về quản thúc ở xã Hậu Thành. Tại đây ông đã tổ chức tuyên truyền, giáo dục nhiệm vụ của thanh niên trong thời đại mới và đó thành lập Chi bộ Đảng liên xã Hậu Mỹ Phú - Hậu Thành.
Năm 1940, trong lúc hoạt động ông bị địch bắt ở đường Kitchenner ( Sài Gòn ) cùng với đồng chí Bùi Văn Được, cả hai bị đày đi Bà Rá. Đến năm 1943, ông bắt liên lạc với hai Chi bộ xã Hậu Mỹ Phú Và Hậu Thành chuẩn bị cho cách mạng tháng 8 năm
Tháng 6 năm 1945, Thanh niên Tiền phong huyện Cái Bè được thành lập ở một số xã, ông về Cái Bè tham gia phong trào và dẫn dắt anh em chuẩn bị khởi nghĩa.
Ngày 25 tháng 8 năm 1945, có 5.000 thanh niên họp tại sân vận động Cái Bè nghe ông nói chuyện về việc cướp chính quyền và sau đó Đoàn thanh niên cùng Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè gồm các ông: Dương Công Hưởng ( Chủ nhiệm Ủy ban cách mạng); Phan Văn Ba ( Phó Chủ nhiệm Ủy ban cách mạng) Lý Tám tức Hoàng Khánh Thu (Tổng Thư ký); Nguyễn Văn Bèn ( Ủy viên) ; Bùi Văn Châu ( Ủy viên) sang dinh quận bắt tên Quận trưởng Lê Tấn Nấm giao chính quyền cho cách mạng. Ủy ban nhân dân cách mạng được thành lập và bắt đầu thừa hành nhiệm vụ từ ngày 25 tháng 8 năm 1945. Trong thời kỳ 9 năm chống Pháp, ông từng giữ vững chức vụ sau:
- Tổng thư ký Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Bí thư Huyện ủy huyện Cái Bè từ năm 1952 - 1954.
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, trong thời gian ở miền Bắc ông từng giữ chức vụ sau:
- Trưởng Ban liên hiệp đình chiến.
- Phó Bí thư Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng.
Sau này, ông về Nam và bị bệnh mất ngày 01 tháng 11 năm 1980, hưởng thọ 67 tuổi an táng tại nghĩa trang liệt sĩ, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (Đồng Tháp).



