Đồng chí "Sáu Thân"
Ông Lê Hữu Phỉ (1913–1993), còn gọi Lê Hồng Phúc, Sáu Thân, quê xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, là cán bộ cách mạng và lãnh đạo địa phương tiêu biểu ở Nam Bộ. Tham gia cách mạng từ năm 1945, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Bí thư Huyện ủy, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Hơn 40 năm hoạt động, ông có nhiều đóng góp cho phong trào cách mạng và công cuộc xây dựng chính quyền sau ngày giải phóng, được tặng nhiều huân chương cao quý của Nhà nước.
Ông Lê Hữu Phỉ còn có tên là Lê Hồng Phúc, tên thường dùng Sáu Thân, bí danh Tân Văn, sinh tháng 7/1913 tại xã Tân Bình Xuyên, huyện Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).
Xuất thân trong gia đình trung nông, lên I0 tuổi, ông được cha mẹ cho đi học hết lớp 3 trường làng.
Năm 1930, ở xã Tân Bình Xuyên, các cuộc mít tinh diễn thuyết được các đồng chí đảng viên tổ chức tại vườn tràm ông Xã Cơ, nhằm hạ uy thế lính làng, tuyên truyền, phát động quần chúng ủng hộ cách mạng, khá đông quần chúng tham gia. Lúc bây giờ, ông rât kính phục và có cảm tình với các đồng chí cán bộ, đảng viên.
Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm quyền, ban bố một số quyền tự do, phong trào đấu tranh công khai ở nước ta phát triển, báo Đảng phát triển rộng khắp, ông được đọc các tác phẩm: Ngục trung ký sự, Tiêng chuông Tây Hồ, Hồi trông tự do... Qua tiếp xúc sách báo của Đảng, thây được cái nhục mất nước, thây được thế nào là sự công bằng, tự do bác ái, đã nhen nhóm và hình thành tư tưởng cách mạng trong ông.
Tháng 4/1945, ông tham gia vào tổ chức cách mạng, được phân công nhiệm vụ vận động tuyên truyền nông dân vào Hội Nông dân cứu quốc xã, trong vòng sáu tháng ông đã vận động được 270 hội viên. Ông tham gia tích cực trong mọi công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ, tháng 9/1945, ông được kết nạp vào Đảng.
Năm 1946 đến 1947, ông là Bí thư chi bộ, Tổng thư ký kiêm Thường trực Uỷ ban nhân dân xã Tân Bình Xuyên.
Năm 1948 đến 1949, ông là Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh xã Tân Bình Xuyên.
Năm 1949 đến đầu năm 1952, ông là thư ký Ban Chấp hành Hội Nông dân cứu quốc, Chánh Văn phòng Huyện uy Chợ Mới.
Tháng 3/1953, ông đắc cử Huyện uỷ viên Huyện uỷ Lai Vung, tỉnh Long Châu Sa, được Tỉnh uỷ cử đi học tại khu Tây Nam Bộ đến tháng 12/1953. Mãn khóá học, ông về phụ trách Trường Công an huyện Lai Vung cho đên đình chiên năm 1954.
Sau đình chiên, ông được phân công làm Bí
thư Huyện uy Lấp Vò.
Tháng 7/1958, hai huyện Lai Vung, Lấp Vò sát nhập, ông là Phó Bí thư Huyện uỷ, phụ trách binh vận.
Tháng 02/1959, ông được điều về làm Bí thư Huyện uy Bình Minh.
Năm 1960 đên 1961, ông là Bí thư Huyện uy Lấp Vò.
Tháng 8/1961, ông được rút về chỉ đạo huyện Bình Minh.
Tháng 8/1962, ông học lớp sơ cấp chính trị tại Trường Đảng, sau khóa học được điều động công tác tại Ban Kinh tế tài chính tỉnh Vĩnh Long.
Tháng 8/1964, ông học lớp sơ trung Trường Đảng Hoàng Văn Thụ (khoa V). Học xong, ông được phân công củng cô Chi bộ xã Tân Nhuận Đông và xã Tân Hoà.
Tháng 7/1968, ông là Tỉnh uỷ viên, Trưởng
Ban Kinh tế tài chính tỉnh Vĩnh Long.
Tháng 1I/1970, ông là Uỷ viên Thường vụ
Tỉnh uỷ, phụ trách Ban Kinh tê tài chính và chỉ đạo huyện Cái Nhum, đến đầu năm 1971, ông chỉ đạo huyện Bình Minh. Tháng 7/1971, ông học Trường Đảng Nguyễn Ai Quốc (khóa
V), đến tháng II/1971, ông được phân công làm Trưởng phân ban Sa Đéc.
Tháng 4/1973, đến đầu năm 1975, ông được phân công làm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Bí thư Đảng uy và về xây dựng căn cứ tại Hoà Bình (Trà Ôn). Sau đó, ông về làm Thường trực Tinh uy và trực tiếp chỉ đạo hai huyện Vũng Liêm và Trà Ôn.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), ông là Chủ tịch Uỷ ban quân quản tỉnh Vĩnh Long, do sức khỏẻ yêu, ông đi điều trị bệnh ở miền Bắc.
Tháng 3/1976, ông là Bí thư Đảng uy Khôi Dân Chính Đảng tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 25/7/1977, ông công tác tại Ban Cải tạo giao thông và thương nghiệp tỉnh Cửu Long.
Năm 1983, ông nghỉ hưu, ngày 10/5/1993, ông từ trần vì bệnh, thọ 8o tuổi.
Hơn 40 năm hoạt động cách mạng, suốt đời phụng sự Tổ quốc và nhân dân, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, Huân chương Quyết thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất.



