Bài viết

Đồng chí Song Hào và cuộc vượt ngục khỏi Nhà tù Chợ Chu

Quảng Trị27/01/2026Phan Châu Trinh (Diên Sanh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thượng tướng Song Hào là một trong những học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị tướng tài ba, mưu lược, nhà chính trị, quân sự xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong giai đoạn đầu tham gia hoạt động, đồng chí từng bị bắt giam và trải qua nhiều ngục tù thực dân. Nhưng ý chí của người chiến sĩ cộng sản kiên trung không bao giờ khuất phục trước xiềng xích của kẻ thù, đồng chí đã trốn thoát và trở về để tiếp tục sự nghiệp cách mạng vinh quang của mình.

Thượng tướng Song Hào, tên thật là Nguyễn Văn Khương, sinh ngày 20/8/1917 trong một gia đình nghèo ở xã Hào Kiệt (nay là xã Liên Minh), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cha mẹ mất sớm, đồng chí lớn lên trong sự đùm bọc thương yêu của anh em, họ hàng, làng xóm. Năm 1936, đồng chí tham gia hoạt động trong phong trào Mặt trận Bình dân và được giao phụ trách tổ Ái hữu thợ thêu, Thanh niên dân chủ tại quê hương Nam Định. Tháng 4/1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đầu năm 1940, đồng chí bị thực dân Pháp bắt tại một căn nhà ở phố Giá Nứa, tỉnh Nam Định.Sa vào tay giặc giữa lúc Đảng ta đang tính việc hoạt động tạo bước chuyển biến cho cách mạng giải phóng dân tộc. Đây cũng là lúc thực dân Pháp một mặt hung hăng đàn áp phong trào cách mạng của ta, một mặt nhượng bộ để phát xít Nhật vào chiếm đóng Đông Dương. Trong hồi ký của mình, đồng chí viết: “Tôi bước thong thả trước mũi súng của bọn mật thám mà trong đầu tôi vẫn nhói câu hỏi buồn bực: Thế là hết hoạt động rồi ư?”. Đến khi bị đẩy vào buồng giam và chiếc cửa đóng sập lại tối om, đồng chí tự nhủ mình một câu ngắn ngủi, dứt khoát: “Phải vượt ngục”.[1]Sau nhiều lần tra khảo không kết quả, chúng dẫn đồng chí đến gặp tên mật thám Pháp Phơ-Lơ-Tơ. Hắn nói với giọng nham hiểm: “Này cậu! Hôm nay cậu có còn “một là toàn thắng, hai là hy sinh nữa không?” Chúng lấy một câu trong bài ca cách mạng mà các đồng chí ta thường hát hồi đó để giễu cợt và thách thức. Thấy vậy, đồng chí vẫn nhìn thẳng vào mặt chúng với ánh mắt căm thù và dõng dạc: “Đúng! Nhất định chúng tôi sẽ thắng!”.Sau một thời gian tra tấn, giam cầm mà không thu được thông tin nào, chúng kết án và chuyển đồng chí lên Nhà tù Sơn La. Tiếp xúc với các chiến sĩ khác bị giam tại đây, đồng chí càng thấy rõ ý chí kiên cường, lòng thương yêu vô bờ bến của những người cách mạng. Ý định “phải vượt ngục” càng dâng cao, các đồng chí trong tù tích cực huấn luyện cho nhau về quân sự, công tác tổ chức, vận động quần chúng trong hoàn cảnh hoạt động bí mật, mặt khác tiếp tục tranh thủ học tập thêm về những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Giữa năm 1942, thực dân Pháp muốn phân tán lực lượng tù cộng sản ở Nhà tù Sơn La, chúng quyết định đưa một số đồng chí đi Bá Vân, đày ra Côn Đảo, đi Ma-đa-gát-xca… và hơn 100 tù nhân về Nhà tù Chợ Chu ở Định Hóa (Thái Nguyên). Trước khi đoàn lên đường, Đảng ủy trong tù dặn dò rất ân cần, sau đó quyết định cho thành lập Chi bộ và chỉ định năm đồng chí làm Chi ủy viên gồm đồng chí Tô Quang Đẩu, Hiến Mai, Trần Danh Tuyên, Tạ Xuân Thu và chỉ định Nguyễn Văn Khương làm Bí thư Chi bộ. Kể từ đây, cuộc đời của người chiến sĩ cộng sản ấy gắn liền với hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị.Bị giam ở Hòa Bình ít lâu, sau đó đi Thái Nguyên rồi lên thẳng Chợ Chu. Áp dụng kinh nghiệm binh vận ở Sơn La, các đồng chí nhanh chóng tìm người liên lạc. Vài ngày sau, đồng chí Tạ Xuân Thu đã liên hệ được một lính khố xanh tên Giá, một người nghèo khổ bị bắt đi lính. Do từng canh giữ tù chính trị nên anh đã hiểu và cảm phục về cách mạng và những người Cộng sản. Anh Giá thông tin sơ qua về tình hình địch và nói: “Các anh cần tôi giúp những gì cứ bảo, tôi làm được đến đâu xin cố đến đó, không dám quản ngại. Vì việc nước, các anh còn không quản lao tù, lẽ nào chúng tôi lại không biết nghĩ…”.[2]Sau khi chắc chắn anh Giá là người tốt, Chi ủy quyết định nhờ mua sách, báo, thu nhặt tin tức bên ngoài và xúc tiến việc tìm bắt liên lạc với cơ sở cách mạng ở địa phương, gửi thư bằng mật mã liên lạc trở lại với các đồng chí cách mạng ở nhà tù Sơn Là và Hòa Bình. Một thời gian sau, Chi ủy nhận được thư của đồng chí Lê Đức Thọ thông báo rằng ở Chợ Chu cũng có một Chi bộ Đảng nằm ngay trong đơn vị khố xanh và sẽ giới thiệu qua đó, đồng thời Xứ ủy Bắc Kỳ sẽ cho người lên Chợ Chu hỗ trợ cuộc vượt ngục. Niềm hy vọng vào cuộc vượt ngục thành công lại thêm rực sáng. Một thời gian sau, Nguyễn Văn Khương bắt được liên lạc với chiến khu Hoàng Hoa Thám do đồng chí Chu Văn Tấn phụ trách, từ đó liên lạc bí mật với Cứu quốc quân.Tháng 9 năm 1944, thời cơ vượt ngục đã đến. Nguyễn Văn Khương và các đồng chí gấp rút chuẩn bị mọi mặt, đồng thời tăng cường liên lạc với bên ngoài, trao đổi cặn kẽ các phương án và thống nhất với nhau từ số người đưa ra cho tới từng ám hiệu, ký hiệu nhỏ trên dọc đường trốn thoát. Ngày ấn định vượt ngục là ngày 2 tháng 10 năm 1944.
Một góc di tích Nhà tù Chợ Chu ngày nay - Ảnh Internet.
Nói về đêm chuẩn bị vượt ngục, Thượng tướng Song Hào viết: “Đêm mùa thu ở đây chớm lạnh. Nhưng trong các “đêm giao thừa vượt ngục” ấy, lòng chúng tôi vô cùng ấm áp. Hầu như không một đồng chí nào ngủ được. Biết bao niềm sung sướng, mừng vui, hy vọng, xốn xang khó tả; cố nhiên cũng xen lẫn sự lo lắng, bồi hồi”.[3]Ngày 2/10/1944, đúng theo kế hoạch, nhóm của Nguyễn Văn Khương đi lấy củi như thường lệ. Tới một quán nghỉ, cả đoàn tù và lính dừng lại để hút thuốc và uống nước. Tiếp đó, các tù nhân sẽ đi lấy củi trong khu vực xung quanh. Tranh thủ lúc những tên lính đi hút thuốc và uống rượu, Nguyễn Văn Khương và đồng đội vờ đi sâu vào rừng nhặt củi, đến một quãng bỏ hết xe bò, cưa, rìu sang bên đường và chạy thẳng vào rừng.Rừng xanh ngút ngàn như xé ra phăng phăng trước mặt, cây cối, lau sậy vùn vụt bay biến, đổ rạp xuống hai bên đường. Mười hai người di chuyển được chừng hơn mười cây số thì tới chỗ hẹn. Một đồng chí đã đợi sẵn gần đó, đưa cho mỗi người một quả lựu đạn để phòng thân. Để tránh địch rượt đuổi, nhóm đi sâu vào khu rừng rậm hướng về địa giới hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang.Địch tổ chức lùng sục khắp nơi nhưng không thấy dấu vết và khai thác thông tin trong dân chúng, đến ngày thứ bảy, chúng phải trở về Chợ Chu. Lúc này, nhóm của Nguyễn Văn Khương đã tới xã Văn Minh, gần Văn Lãng, Đèo Khế (nằm giữa Thái Nguyên và Tuyên Quang). Bước vào căn nhà sàn nhỏ, một người đứng tuổi đã ngồi đợi từ lâu. Đó là Chu Văn Tấn, Chỉ huy chiến khu Hoàng Hoa Thám, người đã làm cho kẻ địch phải gọi là “Hùm xám Bắc Sơn”. Không giấu được sự vui mừng, đồng chí Tấn tiến tới ôm lấy mọi người và nói: “Tốt quá, các đồng chí đã thoát được. Đảng rất hoan nghênh các đồng chí. Phong trào đang rất cần các đồng chí”.
.
Đêm ấy, mọi người quây quần bên bếp lửa, ăn cháo và trò chuyện tới khuya. Hạnh phúc giản dị được sống trong tình Đảng, lòng dân đã đến với Nguyễn Văn Khương và các đồng đội sau những năm tháng xiềng xích.Ngay hôm sau, đồng chí Chu Văn Tấn thay mặt Xứ ủy phân công nhiệm vụ cho nhóm của Khương, một số sang phân khu Quang Trung (hữu ngạn sông Cầu, gồm Thái Nguyên, Bắc Giang và một phần Lạng Sơn), một số sang phân khu Nguyễn Huệ (tả ngạn sông Cầu, gồm một phần Thái Nguyên, Bắc Kạn và toàn bộ Tuyên Quang, Hà Giang). Cả hai phân khu đều nằm trong chiến khu Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Văn Khương làm Bí thư phụ trách chung tất cả các mặt của phân khu Nguyễn Huệ.Buổi chia tay đầy lưu luyến và tin chắc sẽ còn gặp lại, đồng chí Chu Văn Tấn nhìn đồng đội gửi lời chúc “Thắng lợi nhé! Thắng lợi nhiều nhé!” và mỉm cười “thật là những con chim bằng đã sổ lồng, cất cánh!”. Nguyễn Văn Khương và đồng đội tiếp tục những chặng đường hoạt động cách mạng cho tới thắng lợi sau này

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn