Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đồng chí Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân LÊ XUÂN TẤU

Đồng chí Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân LÊ XUÂN TẤU

Phú Thọ24/08/2026Đoàn phường Quy Nhơn Nam (Đoàn phường Quy Nhơn Nam)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Bộ Quốc phòng; Binh chủng Tăng thiết giáp; Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội; Đảng ủy, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, TP Hà Nội và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin:

Đồng chí Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân LÊ XUÂN TẤU

Sinh năm 1945; nguyên quán: Xã Đôn Nhân, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; trú quán: Số 35, ngõ 8, phố Đội Nhân, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, TP Hà Nội; đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp; đã nghỉ hưu.

Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhì, Ba; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Dũng sĩ diệt xe tăng (3 lần); Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng.

Đồng chí từ trần hồi 1 giờ 55 phút ngày 25-6-2023, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Lễ viếng tổ chức hồi 7 giờ 15 phút đến 8 giờ 45 phút ngày 28-6-2023, tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, TP Hà Nội. Lễ truy điệu và đưa tang tổ chức từ 8 giờ 45 phút cùng ngày; hỏa táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ Văn Điển (huyện Thanh Trì, TP Hà Nội). Lễ an táng tại Nghĩa trang xã Đôn Nhân, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tóm tắt tiểu sử

- Từ tháng 3-1963 đến tháng 7-1965: Chiến sĩ, pháo thủ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 202, Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 8-1965 đến tháng 12-1967: Trưởng xe, Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 203, Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 1-1968 đến tháng 4-1969: Trung đội trưởng, Đại đội 3, Tiểu đoàn 198, Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 5-1969 đến tháng 2-1970: Học viên Đại đội 1, Tiểu đoàn 10, Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 3-1970 đến tháng 10-1971: Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 198, Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp, chiến đấu ở Mặt trận Quảng Trị, Đường 9 Nam Lào;

- Từ tháng 11-1971 đến tháng 12-1972: Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 207, Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 1-1973 đến tháng 5-1973: Tham mưu phó Lữ đoàn Xe tăng 201, Binh chủng Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 6-1973 đến tháng 9-1974: Học viên Học viện Lục quân;

- Từ tháng 10-1974 đến tháng 11-1978: Tham mưu phó Lữ đoàn Xe tăng 215, Binh chủng Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 12-1978 đến tháng 9-1980: Học viên Trường Văn hóa Quân đội;

- Từ tháng 10-1980 đến tháng 7-1985: Học viên Học viện Xe tăng Liên Xô;

- Từ tháng 8-1985 đến tháng 1-1993: Phó hiệu trưởng, Hiệu trưởng Trường Hạ sĩ quan Xe tăng 2, Binh chủng Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 2-1993 đến tháng 11-1993: Phó tham mưu trưởng Binh chủng Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 12-1993 đến tháng 3-1994: Phó tư lệnh-Tham mưu trưởng Binh chủng Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 4-1994 đến tháng 12-1994: Học viên Học viện Chính trị quân sự;

- Từ tháng 1-1995 đến tháng 8-1997: Phó tư lệnh-Tham mưu trưởng Binh chủng Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 9-1997 đến tháng 4-1998: Học viên Học viện Lục quân;

- Từ tháng 5-1998 đến tháng 11-2002: Phó tư lệnh-Tham mưu trưởng Binh chủng Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 12-2002 đến tháng 6-2005: Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp;

- Từ tháng 6-2005 đồng chí được Đảng, Nhà nước, Quân đội cho nghỉ hưu;

Đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân ngày 19-5-1972; thăng quân hàm Thiếu tướng năm 2003.

Do có nhiều công lao đóng góp đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Quân đội, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương và Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng.

Dấu ấn người chỉ huy xe tăng vượt bãi mìn

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lần đầu tiên xe tăng Quân đội ta xuất hiện trên chiến trường và đánh thắng ở Tà Mây - Làng Vây (Quảng Trị). Để có chiến thắng đó, phải kể đến thành tích đặc biệt xuất sắc của kíp xe tăng PT-76 mang số hiệu 555, do Trung sĩ Lê Xuân Tấu là trưởng xe (sau này ông là Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân, Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp). Trong quá trình công tác, tôi đã nhiều lần được gặp và nghe Thiếu tướng Lê Xuân Tấu kể về thời quân ngũ của mình.

Đầu năm 1963, từ quê nhà xã Đôn Nhân, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, thanh niên Lê Xuân Tấu viết đơn tình nguyện nhập ngũ vào Binh chủng Tăng thiết giáp. Hoàn thành khóa huấn luyện trưởng xe, Lê Xuân Tấu được điều về Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Xe tăng 203 (nay là Lữ đoàn Xe tăng 203, Quân đoàn 12), với nhiệm vụ trưởng xe PT-76 số hiệu 555 và cùng đội hình vượt gần 1.400km vào chiến trường miền Nam chiến đấu.

Thiếu tướng Lê Xuân Tấu từng chia sẻ: ""Ngày 14-10-1967, chúng tôi nhận lệnh xuất phát tại xã Cự Yên (Lương Sơn, Hòa Bình), bí mật hành quân vào ban đêm theo lộ trình Đường 12A, 12B, 15A, 15B vào Quảng Bình. Xe tôi đảm nhiệm dẫn đầu đội hình hành quân. Để giữ bí mật, các xe chấp hành nghiêm quy định không bật đèn pha mà sử dụng đèn gầm lắp thêm thiết bị hạn chế ánh sáng. Tuyến đường hành quân được chia thành nhiều cung, mỗi cung được chia thành 3 chặng, mỗi chặng trung bình dài khoảng 30-45km, đi trong một đêm. Mỗi xe cách nhau 100-150m để tránh máy bay địch bắn phá.

Trung tuần tháng 1-1968, đơn vị của tôi vào đến địa bàn Quảng Trị. Khoảng 17 giờ ngày 23-1-1968, đại đội xe tăng nhận lệnh xuất kích áp sát căn cứ Tà Mây. Tuy nhiên, do địch gài mìn dày đặc nên gần đến giờ hiệp đồng mà lực lượng công binh của ta vẫn chưa hoàn thành nhiệm vụ thông đường. Xuống xe kiểm tra tình hình, phát hiện không phải mìn chống tăng, tôi lập tức gọi điện báo cáo và được cấp trên đồng ý cho xe tăng vượt qua bãi mìn. Xe tôi đi đến đâu mìn nổ đến đó nhưng xe vẫn không hề hấn gì. Các xe khác đi theo sau vào vị trí tập kết. Gần 1 giờ sáng ngày hôm sau, đơn vị tôi tiến vào Tà Mây. Địch thấy xe tăng của ta thì hốt hoảng chạy tán loạn. Xe tăng 555 do tôi chỉ huy tiến vào sở chỉ huy của địch, phối hợp cùng các lực lượng phá hủy các lô cốt, ụ pháo của địch... Hơn 8 giờ sáng hôm đó, lực lượng của ta đã làm chủ hoàn toàn căn cứ Tà Mây"".

Nhiều đồng đội của ông kể lại, nếu không có quyết định dũng cảm, không sợ hy sinh của đồng chí Lê Xuân Tấu thì xe tăng của ta không thể vào đúng giờ hiệp đồng để giành được chiến thắng. Sau Chiến thắng Tà Mây, đơn vị xe tăng của ông Lê Xuân Tấu tiếp tục hành quân tham gia tiến công cứ điểm Làng Vây. Căn cứ Làng Vây nằm trong tập đoàn cứ điểm Khe Sanh, cách Hướng Hóa (Quảng Trị) khoảng 7km. Đây là căn cứ phòng ngự rất kiên cố của địch.

Đúng 23 giờ 30 phút ngày 6-2-1968, quân ta đồng loạt nổ súng tấn công căn cứ Làng Vây và đến khoảng 4 giờ ngày 7-2, quân ta làm chủ hoàn toàn trận đánh... Chiến thắng Tà Mây-Làng Vây không chỉ có ý nghĩa chiến thuật mà còn có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược, là trận đánh then chốt góp phần vào chiến thắng chung của Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh năm 1968, trong đó lực lượng xe tăng có vai trò rất lớn.

"

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn