Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

ĐỒNG CHÍ TÔ HIỆU (1912 – 1944): BIỂU TƯỢNG KHÍ PHÁCH KIÊN TRUNG VÀ SỨC SỐNG BẤT DIỆT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Hưng Yên13/08/2026xã Đường An (Xã Đường An)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
ĐỒNG CHÍ TÔ HIỆU (1912 – 1944): BIỂU TƯỢNG KHÍ PHÁCH KIÊN TRUNG VÀ SỨC SỐNG BẤT DIỆT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

THÂN THẾ VÀ THỜI NIÊN THIẾU

1. Gia thế và truyền thống gia đình Đồng chí Tô Hiệu sinh năm 1912 tại thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (trước đây thuộc tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước và cách mạng sâu sắc.

Gia tộc của ông có nhiều tấm gương kiệt xuất: cụ nội là Đốc học Tô Ngọc Nữu, một trong ba người thầy mẫu mực danh tiếng của đất Bắc Kỳ lúc bấy giờ; cha ông là cụ Tô Y và mẹ là cụ bà Ngô Thị Lý (1877–1952). Bà Ngô Thị Lý là con gái của tướng quân Ngô Quang Huy, một trong những lãnh tụ chủ chốt chỉ đạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy chống thực dân Pháp nổi tiếng cuối thế kỷ XIX. Cụ bà Ngô Thị Lý có công lao to lớn trong việc nuôi dưỡng, bảo vệ các cán bộ cách mạng tiền bối và đã được truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" vào năm 2015. Tô Hiệu là con út trong gia đình có 5 người con, các anh chị của ông lần lượt là Tô Tu, Tô Chấn (lãnh tụ kiệt xuất của phong trào yêu nước), Tô Thị Xuyến và Tô Thị Phúc.

2. Thời niên thiếu và bước đầu giác ngộ lý tưởng Trong giai đoạn 1924–1926, Tô Hiệu theo học tiểu học tại trường Pháp - Việt ở thị xã Hải Dương. Dù có học lực xuất sắc, ông vẫn bị nhà trường đuổi học vào năm 1926 (khi mới 14 tuổi) vì tinh thần hăng hái dẫn đầu các phong trào bãi khóa yêu nước của học sinh để tang cụ Phan Chu Trinh và đòi ân xá cụ Phan Bội Châu.

Sau đó, ông được người anh cả Tô Tu đưa lên Hà Nội tiếp tục học cao đẳng tiểu học từ năm 1927 đến 1929 và làm việc tại sở Quản lý văn khê. Tại đây, ông tích cực hoạt động trong tổ chức Học sinh đoàn thuộc Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cùng tổ chức xích vệ Đoàn.


II. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

1. Hoạt động tại Sài Gòn và những năm tháng tôi luyện ở Côn Đảo (1929 – 1934) Cuối năm 1929, Tô Hiệu cùng anh ruột là Tô Chấn vào Sài Gòn hoạt động yêu nước và tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng. Đến năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giữ, kết án 4 năm tù khổ sai và đày đi Côn Đảo khi mới vừa tròn 18 tuổi.

Trong những năm tháng bị giam cầm tại ngục tối Côn Đảo, Tô Hiệu được các chiến sĩ cộng sản đi trước giàu kinh nghiệm như Nguyễn Hới và Tống Văn Trân dành nhiều thời gian giác ngộ lý luận cách mạng. Bằng bản lĩnh vững vàng và sự giác ngộ sâu sắc, ông đã đứng vào hàng ngũ cách mạng và chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1932.

2. Khôi phục phong trào cách mạng và tham gia lãnh đạo Xứ ủy Bắc Kỳ (1934 – 1938) Năm 1934, sau khi mãn hạn tù, Tô Hiệu bị thực dân Pháp áp giải về quản thúc nghiêm ngặt tại quê nhà Xuân Cầu. Dù cơ thể mang trọng bệnh ho lao do chế độ nhà tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, ông vẫn kiên cường tìm cách trốn thoát sự quản thúc để tiếp tục hoạt động. Ông hăng hái bắt liên lạc với tổ chức Đảng và xây dựng lại cơ sở cách mạng ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và Thái Nguyên.

Khi phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương nổ ra, ông đã di chuyển liên tục qua nhiều tỉnh thành như Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình dưới sự bám đuổi gắt gao của mật thám để củng cố phong trào bí mật và khai thác các khả năng bán hợp pháp. Năm 1937, ông tích cực tham gia khôi phục Xứ ủy Bắc Kỳ, được bầu vào Ban Thường vụ Xứ ủy lâm thời Bắc Kỳ và phụ trách tổ chức, tuyên truyền, huấn luyện công nhân.

3. Đỉnh cao phong trào cách mạng vùng duyên hải Hải Phòng (1938 – 1939) Cuối năm 1938, Tô Hiệu được điều động về phụ trách Khu B (vùng duyên hải Bắc Bộ và các tỉnh lân cận) kiêm nhiệm trực tiếp chức vụ Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Tại đây, ông đưa phong trào cách mạng của công nhân Hải Phòng lên một sinh khí mới với quy mô lớn mạnh vượt bậc.

Điển hình là cuộc bãi công anh dũng của 3.000 đến 4.000 công nhân Nhà máy Tơ Hải Phòng kéo dài từ tháng 4 đến ngày 21/5/1939 giành thắng lợi vang dội. Cuộc đấu tranh này đã gây tiếng vang lớn trong nước và quốc tế, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo lên Quốc tế Cộng sản ca ngợi là một cuộc tranh đấu có kỷ luật và tính tổ chức rất cao. Ngày 30/5/1939, ông trực tiếp chỉ huy cuộc mít tinh của hàng ngàn công nhân, tiểu thương biểu tình kéo đến Tòa Đốc lý Hải Phòng chống thuế đèn, thuế nước.

Dưới cương vị Bí thư Khu ủy B, ông đã phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo hàng loạt thanh niên cách mạng ưu tú trở thành những cán bộ cốt cán sau này cho Đảng như Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Ngân, Ngô Minh Loan, Trương Thị Mỹ, Đặng Kinh, Đào Phúc Lộc.... Cuối năm 1939, khi chính quyền thực dân Pháp đóng cửa các cơ quan dân chủ, ông nhanh chóng chỉ đạo lực lượng rút vào hoạt động bí mật, bảo toàn lực lượng cách mạng và xuất bản tờ báo Chiến Đấu.


III. BỊ BẮT LẦN THỨ HAI VÀ PHẨM CHẤT KIÊN TRUNG TẠI NGỤC SƠN LA (1939 – 1944)

1. Khí phách kiên cường trước đòn roi của kẻ thù Ngày 1/12/1939, Tô Hiệu bị mật thám bắt giữ khi đang trực tiếp kiểm tra một cơ sở in ấn tài liệu tại xóm thợ Thượng Lý (Hạ Lý), Hải Phòng. Thực dân Pháp đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man và ra sức mua chuộc từ đề lao Hải Phòng cho đến ngục Hỏa Lò (Hà Nội) nhưng không thể lay chuyển được ý chí gang thép của người chiến sĩ cộng sản. Cuối tháng 12/1939, chúng kết án ông 5 năm tù và đày lên Nhà tù Sơn La vào đầu năm 1940.

2. Biến "địa ngục trần gian" thành trường học cách mạng Nhà tù Sơn La lúc bấy giờ được coi là "địa ngục trần gian" nhằm bẻ gãy ý chí cách mạng của các tù nhân chính trị. Dù bị căn bệnh lao phổi tàn phá cơ thể nghiêm trọng đến mức thường xuyên ho ra máu, Tô Hiệu vẫn giữ vững ngọn lửa tinh thần và được các đồng chí tin cậy bầu làm Bí thư Chi bộ nhà tù Sơn La vào tháng 5/1940.

Trên cương vị Bí thư, ông đã cùng chi ủy tổ chức đấu tranh đòi cải thiện chế độ sinh hoạt nhà tù, đồng thời biến nơi giam cầm tối tăm thành một trường huấn luyện lý luận chính trị, quân sự, văn hóa cho anh em tù nhân. Ngay cả trong những cơn đau phổi dữ dội, ông vẫn kiên cường ngồi trên bệ xi măng, ép chặt hai đầu gối vào ngực để nén cơn đau, vừa viết tài liệu huấn luyện vừa ho khạc ra máu. Tháng 5/1941, ông và Chi bộ xuất bản tờ báo Suối Reo nhằm lan tỏa niềm lạc quan cách mạng. Từ tháng 10/1941, dù thôi giữ chức Bí thư vì lý do sức khỏe, ông vẫn là cố vấn đặc biệt đáng tin cậy của Chi ủy và là Trưởng ban huấn luyện đào tạo cán bộ.

3. Sự hy sinh anh dũng và biểu tượng bất diệt "Cây đào Sơn La" Trong những năm tháng bị giam cầm biệt giam khắc nghiệt, từ những giọt nước hiếm hoi tiết kiệm được của bản thân, Tô Hiệu đã tự tay gieo trồng và chăm sóc một mầm đào nhỏ ngay bên ngách xà lim của nhà tù. Cây đào ấy vươn lên mạnh mẽ đâm chồi nảy lộc giữa chốn ngục tù như một minh chứng cho sức sống kỳ diệu và niềm tin mãnh liệt vào tương lai tất thắng của cách mạng Việt Nam.

Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 7 tháng 3 năm 1944, đồng chí Tô Hiệu đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà tù Sơn La ở tuổi 32 khi tuổi đời còn rất trẻ. Thân xác ông được an táng tại nghĩa trang Vườn ổi (nay là nghĩa trang liệt sĩ nhà tù Sơn La). Để bày tỏ tình yêu thương và lòng tôn kính sâu sắc, những người đồng chí cùng tù đã khắc một tấm bia đá mang tên "Tô Hiệu" và bí mật đặt dưới mộ của ông.


IV. VINH DANH VÀ DI SẢN TRƯỜNG TỒN

Tên tuổi và sự nghiệp anh dũng của đồng chí Tô Hiệu đã mãi mãi khắc ghi vào trang sử vàng oanh liệt của dân tộc Việt Nam.

  • Lãnh đạo tiền bối tiêu biểu: Tại Kết luận số 88-KL/TW ngày 14/2/2014, Bộ Chính trị đã trang trọng đưa đồng chí Tô Hiệu vào danh sách "Lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và Cách mạng Việt Nam".

  • Cây đào Tô Hiệu: Trải qua bom đạn tàn phá ác liệt của thực dân Pháp năm 1952 và đế quốc Mỹ năm 1965, cây đào do ông trồng vẫn đứng vững nguyên vẹn như một biểu tượng của tinh thần bất khuất trường tồn.

  • Các di tích lịch sử: Nhà tù Sơn La đã được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2014. Khu lưu niệm đồng chí Tô Hiệu tại quê nhà xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên được xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia năm 2020.

  • Tưởng niệm: Tên của ông được đặt cho rất nhiều tuyến phố chính, trường học lớn tại các tỉnh thành lớn trên cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh..., tiêu biểu như Trường Chính trị Tô Hiệu tại thành phố Hải Phòng.


  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn