Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

ĐỒNG CHÍ TRƯỜNG CHINH: NHÀ CHIẾN LƯỢC KIỆT XUẤT, NHÀ VĂN HÓA LỚN VÀ KIẾN TRÚC SƯ CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

Từ người thanh niên Đặng Xuân Khu dấn thân vào con đường cách mạng đến vị Tổng Bí thư chèo lái đất nước qua những bước ngoặt sinh tử, đồng chí Trường Chinh là nhà chiến lược kiệt xuất, nhà văn hóa lớn và người khởi xướng công cuộc Đổi mới lịch sử năm 1986. Tác phẩm khắc họa trọn vẹn cuộc đời, trí tuệ lý luận và phẩm chất cách mạng cao đẹp của một nhân cách lớn đối với dân tộc.

Ninh Bình03/11/2026Dương Khánh Đoan (Phường Sài Gòn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Từ vùng quê giàu truyền thống đến nhà lý luận sắc sảo của Đảng

Đồng chí Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9 tháng 2 năm 1907 tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thủy (nay là huyện Xuân Trường), tỉnh Nam Định – một vùng đất nổi tiếng giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và khoa bảng. Sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước, tinh thần hiếu học cùng lý tưởng phụng sự Tổ quốc đã sớm được gieo mầm trong tâm hồn ông.

Bước ngoặt tư duy của người thanh niên Đặng Xuân Khu bắt đầu khi ông tìm đọc tác phẩm Đường Kách mệnh cùng các tài liệu cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ tình yêu nước nồng nàn ban đầu, ông đã nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và trở thành một người cộng sản kiên trung.

Năm 1925, ông tích cực tham gia phong trào bãi khóa của học sinh đòi thực dân Pháp ân xá cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Năm 1926, ông tiếp tục là một trong những người lãnh đạo cuộc bãi khóa truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh. Việc bị thực dân Pháp đuổi học không làm sờn lòng người thanh niên yêu nước; ông lên Hà Nội tiếp tục học tại Trường Cao đẳng Thương mại và dấn thân mạnh mẽ hơn vào con đường đấu tranh.

Năm 1927, ông gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đến năm 1929, ông tham gia cuộc vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ. Tháng 11 năm 1930, ông được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng. Cuối năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giam, kết án 12 năm tù cấm cố và đày đi Nhà tù Sơn La. Trong chốn ngục tù khắc nghiệt, ông cùng các đồng chí biến nhà giam thành trường học cách mạng, giữ vững khí tiết và niềm tin sắt đá.

Sau khi ra tù năm 1936, ông tham gia lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Trong giai đoạn này, ông thể hiện tài năng báo chí và lý luận xuất sắc. Năm 1938, dưới bút danh Qua Ninh, ông cùng đồng chí Võ Nguyên Giáp (bút danh Vân Đình) biên soạn cuốn sách kinh điển Vấn đề dân cày, phân tích sâu sắc thực trạng nông thôn Việt Nam và đề ra đường lối vận động nông dân – lực lượng đông đảo nhất của cách mạng.

2. Người Tổng Bí thư trong những bước ngoặt chiến lược của Cách mạng Tháng Tám và Kháng chiến

Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Pắc Bó (Cao Bằng) dưới sự chủ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Đặng Xuân Khu được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, kiêm Trưởng Ban Tuyên huấn và Chủ bút các tờ báo chỉ đạo chiến lược như Cờ Giải phóng và Tạp chí Cộng sản. Năm 1943, ông bị Tòa án binh của thực dân Pháp ở Hà Nội kết án tử hình vắng mặt, nhưng ông vẫn bình tĩnh, mưu trí sống trong lòng nhân dân để chỉ đạo phong trào.

Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Trường Chinh đã thể hiện tầm vóc của một nhà chiến lược kiệt xuất qua những văn kiện mang tính bước ngoặt:

● Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (tháng 3/1945): Ngay sau khi Nhật hất cẳng Pháp, ông đã kịp thời phân tích tình hình, dự báo thời cơ cách mạng chín muồi và đề ra phương châm hành động thúc đẩy phong trào Tiền khởi nghĩa, tạo tiền đề trực tiếp cho thắng lợi thần tốc của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

● Tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" (1947):Khi cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, tác phẩm của ông đã đúc kết và hệ thống hóa đường lối chiến tranh nhân dân: toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực gánh sinh. Đây trở thành cuốn sổ tay chiến lược, củng cố niềm tin sắt đá cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đi tới thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (năm 1951), ông tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, sát cánh cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh chèo lái con thuyền kháng chiến kiến quốc.

3. Nhà văn hóa lớn, nhà lãnh đạo Quốc hội và tư tưởng "Dùng bút làm đao"

Không chỉ là một nhà chỉ đạo quân sự và chính trị, đồng chí Trường Chinh còn là một nhà văn hóa lớn, một cây bút chính luận sắc bén và là nhà thơ Sóng Hồng tài hoa.

Năm 1943, ông trực tiếp khởi thảo bản Đề cương về Văn hóa Việt Nam – văn kiện mang tính mở đường, xác định ba nguyên tắc vận động của nền văn hóa mới: Dân tộc hóa, Đại chúng hóa và Khoa học hóa. Bản đề cương đã tập hợp đông đảo tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ đi theo cách mạng, làm cho văn hóa trở thành một mặt trận quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Với bút danh Sóng Hồng, ông viết nhiều bài thơ tràn đầy khí phách cách mạng. Triết lý nghệ thuật của ông được đúc kết qua những câu thơ nổi tiếng:

"Dùng bút làm đao châm nhọt mủ, Dùng thơ làm đạn phá đồn thù."

Nét đặc sắc ở Trường Chinh là sự hòa quyện giữa tính chiến đấu kiên cường của người cộng sản và tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, coi văn học nghệ thuật là vũ khí sắc bén phục vụ nhân dân và Tổ quốc.

Trong bộ máy Nhà nước, đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ quan trọng như Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước (năm 1958). Đặc biệt, từ năm 1960 đến năm 1981 (từ Quốc hội khóa II đến khóa VI), ông liên tục giữ chức Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trên cương vị này, ông đã có những đóng góp to lớn vào việc đặt nền móng pháp lý, xây dựng Hiến pháp và củng cố hệ thống cơ quan dân chức đại diện cho quyền lực của nhân dân.

4. "Kiến trúc sư" khởi xướng Công cuộc Đổi mới lịch sử năm 1986

Tháng 7 năm 1986, sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời, tại Hội nghị đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư.

Ở tuổi 79, đứng trước bối cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng, đồng chí Trường Chinh đã thể hiện bản lĩnh chính trị phi thường, tinh thần tự phê bình sâu sắc và tư duy đổi mới vượt thời gian. Với phương châm nổi tiếng: "Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", ông đã trực tiếp chỉ đạo khảo sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến của nhân dân và các nhà khoa học để hình thành tư duy kinh tế mới.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), đồng chí Trường Chinh đã cùng Ban Chấp hành Trung ương khởi xướng và thông qua đường lối Đổi mới toàn diện đất nước. Việc xoá bỏ cơ chế tập trung bao cấp, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một bước ngoặt lịch sử, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ.

Với chiến công tư duy xuất sắc đó, đồng chí Trường Chinh được tôn vinh là "Kiến trúc sư của Công cuộc Đổi mới", một nhà lãnh đạo đổi mới xuất phát từ lòng yêu nước thương dân và tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc.

Lời kết: Di sản bất tử của một nhân cách lớn

Đồng chí Trường Chinh qua đời ngày 30 tháng 9 năm 1988 tại Hà Nội, hưởng thọ 81 tuổi.

Ghi nhận những cống hiến vô giá của ông đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng ông Huân chương Sao Vàng – huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam. Cùng với đó, nhiều quốc gia bạn bè như Liên Xô, Lào, Campuchia, Đức, Mông Cổ, Bulgaria, Hungary, Tiệp Khắc... cũng đã trao tặng ông nhiều huân chương cao quý.

Cả cuộc đời đồng chí Trường Chinh là tấm gương sáng ngời về sự kiên trung, trí tuệ lý luận sắc bén, tinh thần đổi mới sáng tạo và sự tận tụy phụng sự nhân dân. Di sản ông để lại không chỉ là những văn kiện chiến lược, những trang thơ tràn đầy nhiệt huyết, mà quan trọng nhất là bản lĩnh bước qua lối mòn để mở ra con đường phát triển cho đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn