Đồng chí Trường Chinh với công tác tư tưởng – văn hóa
Giống như nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta, trước khi là cán bộ cách mạng chuyên nghiệp, đồng chí Trường Chinh đã dùng báo chí là phương tiện hữu hiệu để thể hiện tâm nguyện đời mình là “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ”.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Trường Chinh là hiện tượng điển hình về sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhiều “nhà”: nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà lý luận, nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ…; trong đó hoạt động báo chí là một trong những nét nổi bật nhất của một lãnh tụ trong suốt cuộc đời cách mạng. Kể từ khi tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1928 cho đến lúc đảm nhiệm cương vị Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ vào giữa năm 1940, ông đã làm chủ bút và trực tiếp viết báo ở hàng chục tờ báo và tạp chí, như Dân cày, Búa liềm, Con đường sáng, Đuốc Việt Nam… Bị địch bắt vào tù, ông vẫn viết cho các tờ Suối reo, Lao tù… Từ năm 1942, trên cương vị Tổng Bí thư, ngoài việc chỉ đạo các hoạt động hằng ngày của Đảng, ông trực tiếp phụ trách báo Cờ giải phóng và cũng là người viết bài chủ yếu. Ngày 12/3/1945, Trường Chinh viết “Chỉ thị Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Năm 1947, ông trực tiếp chỉ đạo Ban Tuyên truyền và báo Sự Thật (dưới danh nghĩa là cơ quan tuyên truyền và cổ động của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương). Cần nhấn mạnh một sự kiện mang tầm tổng kết lý luận và thực tiễn sâu sắc- đó là vào năm 1943, trước khi Đảng ta giành chính quyền, ông đã trực tiếp khởi thảo Đề cương văn hóa, đặt nền tảng cho những quan điểm có tính định hướng về xây dựng và phát triển nền văn hóa của dân tộc ta sau này, với ba phương châm là dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa.
Là nhà lý luận xuất sắc của Đảng, Trường Chinh rất coi trọng việc nắm bắt thực tiễn đời sống, thường xuyên lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân. Tại Đại hội II, Hội Nhà báo Việt Nam họp tại Hà Nội ngày 16/4/1959, ông có cuộc đối thoại cởi mở với các đại biểu chung quanh các vấn đề cơ bản nảy sinh trong thực tiễn hoạt động báo chí, trong đó ông dành nhiều thời gian đề cập, lý giải mối quan hệ giữa biểu dương và phê phán trên báo chí. Ông nhắc lại quan điểm của Bộ Chính trị trong Nghị quyết ngày 8/12/1958: “…Trong sự thật ở miền Bắc nước ta hiện nay, cái tốt là chủ yếu, là căn bản, nhưng không phải không còn cái xấu. Không nên ngại vạch cái xấu, không nên tránh nói khó khăn, khuyết điểm… Nói khó khăn, khuyết điểm cốt để giáo dục cán bộ, đảng viên và quần chúng ra sức tìm cách phấn đấu, tìm cách vượt qua để giành thắng lợi, chứ không phải để làm nản lòng quần chúng”. Ông chỉ rõ, cùng với những mặt tốt của phong trào cách mạng, vẫn đang tồn tại những tàn tích của tư tưởng, tác phong, tập quán lạc hậu và hủ bại của chế độ cũ; những thói xấu như lười biếng, tham ô, lãng phí, quan liêu, bảo thủ, tự do chủ nghĩa, vô tổ chức, vô kỷ luật… đang cản trở đà tiến lên của xã hội mới. Ông cho rằng, hiện nay, báo chí thường hay biểu dương thành tích và ưu điểm quá mức và một chiều, ít nói những khuyết điểm và khó khăn, làm cho người xem sinh ra chủ quan, tự mãn. Ông cũng lưu ý hiện tượng có một số người lợi dụng phê phán trên báo chí để bôi đen chế độ, đả kích sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quần chúng phân tâm và hoang mang- điều đó cần được báo chí phân tích, đấu tranh để bảo vệ đường lối đúng đắn của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ông nhấn mạnh nhiệm vụ của báo chí là “xây” và “chống”, nhưng phải coi việc xây dựng, biểu dương những nhân tố mới, người mới, việc mới là chính.
Tại hội nghị này, ông cũng làm rõ nhiệm vụ phải tăng cường tính đảng của báo chí. Ông khẳng định: “Tất cả những tờ báo của chế độ ta, bất cứ là báo Đảng hay không, đều phải có tính đảng vô sản, thể hiện ở việc tuyên truyền, cổ động kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng; tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành đúng những chỉ thị của Đảng và Chính phủ, chống mọi sự gièm pha, xuyên tạc và đả kích của kẻ địch, đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin; củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước”…



