Bài viết

Đồng chí Võ Chí Công, nhà lãnh đạo tài năng, tấm gương người cộng sản mẫu mực

Với gần 80 năm hoạt động cách mạng, cuộc đời đồng chí Võ Chí Công gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta.

Đà Nẵng16/09/2026Đoàn xã Ea Nuôl (Xã Ea Nuôl)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đồng chí Võ Chí Công, nhà lãnh đạo tài năng, tấm gương người cộng sản mẫu mực

Đồng chí Võ Chí Công, tên khai sinh là Võ Toàn, sinh ngày 7/8/1912, tại thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Tam Kỳ (nay là huyện Núi Thành) tỉnh Quảng Nam. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, ở vùng quê giàu truyền thống văn hóa, yêu nước, chống giặc ngoại xâm, người thanh niên yêu nước Võ Chí Công đã sớm giác ngộ cách mạng, tham gia hoạt động trong phong trào thanh niên yêu nước ở cơ sở những năm 1930-1931. Tháng 5/1935, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay).

Năm 1940, đồng chí Võ Chí Công được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; năm 1941 được cử vào Xứ ủy Trung Kỳ, phụ trách các tỉnh từ Quảng Nam - Đà Nẵng tới Phú Yên. Đến năm 1942, đồng chí được phân công vào gây dựng cơ sở tại các tỉnh vùng Nam Trung Bộ, sau đó bị địch bắt và kết án tù chung thân nhưng được giảm án xuống còn 25 năm tù; tháng 3/1945, sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp, đồng chí được ra tù và trở về Quảng Nam tiếp tục hoạt động cách mạng.

Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, đến đầu năm 1954, đồng chí ra miền Bắc và được phân công là Đoàn ủy viên cải cách ruộng đất ở khu Việt Bắc. Khi Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, đồng chí được phân công trở lại khu V làm Phó Bí thư Khu ủy Khu V (1955-1958). Tháng 9/1960, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Khi Trung ương Cục miền Nam thành lập, đồng chí được Bộ Chính trị điều động vào Nam Bộ làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Tại Đại hội Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam và là đại diện của Đảng trong Mặt trận. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí là Phó ban đại diện của Trung ương Đảng và Chính phủ ở miền Nam; đến năm 1976 được giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976), đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị. Năm 1978, đồng chí làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Trưởng Ban cải tạo Nông nghiệp miền Nam. Tháng 4/1981, đồng chí được cử giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 3/1982, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, Ban Bí thư và được phân công làm Thường trực Ban Bí thư. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và tham gia Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tháng 4/1987, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VIII, đồng chí được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Đồng chí tiếp tục làm cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, khóa VIII và là đại biểu Quốc hội khóa VI, VII và VIII.

Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cùng nhiều huân, huy chương cao quý khác.

NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN VỚI SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

Tháng 3/1945, sau khi từ nhà tù Buôn Mê Thuột trở về, đồng chí tham gia ngay vào Ban lãnh đạo khởi nghĩa tỉnh Quảng Nam, bằng nhiều biện pháp đấu tranh quyết liệt và khôn khéo đã cùng Ban lãnh đạo khởi nghĩa giành được thắng lợi một cách nhanh chóng. Quảng Nam trở thành một trong 4 tỉnh giành chính quyền về tay nhân dân sớm nhất trong cả nước.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên cương vị là Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu V, đồng chí đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, kiên trì bám đất, bám dân, đề xuất với Trung ương nhiều vấn đề có tính chiến lược về con đường cách mạng ở miền Nam, đóng góp vào việc xây dựng dự thảo Nghị quyết Trung ương 15 lịch sử, mở ra bước ngoặt lớn cho cách mạng miền Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của đồng chí Võ Chí Công và Khu ủy Khu V, quân ta đã tiến công vào các thành phố, thị xã, đạt được mục tiêu rồi nhanh chóng rút về căn cứ nên đã bảo toàn lực lượng, ít bị thiệt hại so với những nơi khác.

Khi Hiệp định Pari được ký kết, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, từ kinh nghiệm thực tiễn, đồng chí Võ Chí Công và lãnh đạo Khu ủy Khu V xác định rằng, sẽ không có hòa bình ngay, kẻ địch còn tiếp tục đánh phá, phá hoại Hiệp định. Đồng chí đã coi trọng công tác lãnh đạo tư tưởng, xốc lại đội ngũ, kiên quyết tiến công địch, giành đất, giành dân, xây dựng lực lượng về mọi mặt, góp phần đẩy nhanh sự suy yếu của ngụy quân, ngụy quyền.

Tháng 3/1975, để chuẩn bị cho chiến dịch lớn, đồng chí Võ Chí Công đã tham gia, chỉ đạo đánh trận mở màn vào Buôn Mê Thuột, giải phóng toàn bộ vùng đất chiến lược Tây Nguyên, làm cho quân địch choáng váng, tháo chạy về Đà Nẵng cố thủ. Nắm bắt thời cơ mới xuất hiện, đồng chí đã đề xuất với Bộ Chính trị, chớp thời cơ, tiến công giải phóng Đà Nẵng sớm hơn kế hoạch đã định. Thắng lợi ở Tây Nguyên và Đà Nẵng đã góp phần tạo thế và lực to lớn cho toàn quân, toàn dân ta giải phóng miền Nam, đánh thắng ý đồ kéo dài chiến tranh của Mỹ, ngụy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

 Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, đồng chí Võ Chí Công được điều ra Trung ương công tác; được Đảng tín nhiệm cử giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản, Thường trực Ban Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Ở bất cứ nhiệm vụ nào đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đặc biệt, khi giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản,  đồng chí đã đề xuất với Chính phủ những giải pháp thiết thực, thực hiện cơ chế tự quản để phát triển sản xuất, xóa bỏ bao cấp Nhà nước, đưa ngành Hải sản từng bước vươn lên trở thành một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Khi phụ trách ngành Nông nghiệp, đồng chí đã đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và nhận trách nhiệm chỉ đạo dự thảo Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm trong hợp tác xã nông nghiệp đến nhóm và người lao động,  tạo bước đột phá quan trọng trong nông nghiệp. Trên cơ sở tổng kết Chỉ thị 100, Trung ương đã ra Nghị quyết 10 (năm 1988) về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, tạo động lực mới trong sản xuất, đưa nước ta từ chỗ thiếu lương thực đến đủ ăn và từng bước có dư để xuất khẩu.

Khi làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí Võ Chí Công đã có những đóng góp quan trọng vào đổi mới hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là công tác lập hiến và lập pháp.

Trên cương vị là Chủ tịch Ủy ban sửa đổi Hiến pháp năm 1980, dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, sự góp ý của Hội đồng Nhà nước, đồng chí Võ Chí Công đã cùng Ủy ban tập hợp ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, tập trung được nhiều chuyên gia; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng hiến pháp của một số nước, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam; kiên trì đấu tranh với những quan điểm sai trái trong việc sửa đổi Hiến pháp, giữ vững những điều cơ bản về dân chủ, về pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp sửa đổi năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, được Trung ương Đảng, Quốc hội thông qua, đánh dấu một mốc lịch sử về công cuộc đổi mới đất nước, làm cơ sở vững chắc cho việc xây dựng hệ thống pháp luật, quản lý mọi mặt hoạt động của đất nước.

Khi tuổi đã cao, là cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Võ Chí Công đã tích cực đóng góp nhiều ý kiến với Đảng và Ban Chấp hành Trung ương trong những vấn đề lớn, đặc biệt là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sức chiến đấu của Đảng.

Cùng với những đóng góp lớn lao trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí Võ Chí Công là một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, với những phẩm chất tiêu biểu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đồng chí  đã để lại cho chúng ta hình ảnh về một nhà lãnh đạo đức độ, một nhà hoạt động thực tiễn phong phú, một chiến sĩ cách mạng tài trí kiên cường, suốt đời hy sinh phấn đấu phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn