ĐỒNG CHÍ VÕ CHÍ CÔNG VỚI CHÍNH SÁCH KHOÁN TRONG NÔNG NGHIỆP
Đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước trong điều kiện vô cùng khó khăn. Chiến tranh kéo dài để lại hậu quả nặng nề trên tất cả các mặt. Thêm vào đó là việc kéo dài cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện mới đã làm cho khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra sâu sắc trên phạm vi cả nước.

Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí Võ Chí Công được Đảng và Nhà nước phân công giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Trưởng ban Cải tạo nông nghiệp miền Nam. Đồng chí luôn trăn trở với tình hình sản xuất đang trì trệ và đau đáu tìm câu trả lời cho hiện trạng nền sản xuất nông nghiệp vốn có nhiều lợi thế của đất nước. Với tinh thần thật sự cầu thị và sâu sát thực tiễn, đồng chí quyết định đi đến các hợp tác xã “khoán chui” ở Hải Phòng, Vĩnh Phú…, ra đồng ruộng lắng nghe ý kiến, xem cách làm của xã viên. Từ khảo sát thực tế ở các địa phương, đồng chí nhận thấy cơ chế quản lý của mô hình kinh tế tập thể “hợp tác xã” đã trở thành lực cản của kinh tế nông nghiệp. Do đó, tiến hành cải cách trong nông nghiệp, trước hết là cải cách cơ chế quản lý cũ đã trở thành yêu cầu cấp bách, tất yếu. Trong đó, vấn đề đầu tiên được đồng chí nêu ra là khoán ruộng đất cho xã viên bởi “khoán sẽ giải quyết được lợi ích cho người lao động, tạo ra động lực cho sản xuất; động cơ lợi ích của người lao động đạt được thì sẽ xóa được tiêu cực” (1). Tuy nhiên từ nhận thức đến việc thực hiện trong thực tế là cả một quá trình, cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới bao giờ cũng quyết liệt. “Khoán chui” lúc này bị lên án gay gắt, cho là chống chủ nghĩa xã hội ở nông thôn, là chống Đảng. Một số cơ quan tham mưu, quản lý ở Trung ương coi những nơi đang khoán sản phẩm là bất hợp pháp. Một số địa phương kỷ luật nghiêm khắc bất kỳ đảng viên, cán bộ nào ủng hộ khoán sản phẩm. Mặt khác, khoán chui trên thực tế dù đem lại hiệu quả rõ rệt, nhưng là việc làm tự phát của nông dân, do vậy cần có sự chỉ đạo, theo dõi chặt chẽ, đánh giá khách quan, tổng kết thực tiễn để đề xuất Trung ương có chủ trương đúng. Từ suy nghĩ đó, bên cạnh việc tiến hành tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm về “khoán chui” ở nhiều địa phương đồng bằng sông Hồng như Hải Phòng, Hà Nam Ninh…., đồng chí Võ Chí Công chỉ đạo việc làm thí điểm khoán đến người lao động ở hợp tác xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phú; sau đó, chỉ đạo Bộ Nông nghiệp cử cán bộ xuống thống nhất với tỉnh, huyện cách làm cụ thể để triển khai.
Là người trực tiếp chỉ đạo ngành nông nghiệp, đồng chí Võ Chí Công không chỉ tỏ rõ thái độ đồng tình, ủng hộ cách làm mới mà đã đứng ra nhận trách nhiệm về mình: Trên lĩnh vực này tôi phụ trách, nếu khoán mới không đem lại hiệu quả, tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn với Đảng và nhân dân. Đồng chí khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội không thể chấp nhận khoán việc vì đã là Chủ nghĩa xã hội cách làm ăn phải do dân tự nguyện lựa chọn, phải mang lại no ấm, hạnh phúc cho dân. Chỉ có khoán sản phẩm, khoán chui mới phù hợp với Chủ nghĩa xã hội vì bất cứ đâu khoán chui thu nhập của xã viên cũng hơn hẳn khoán việc, vậy tại sao lại gắn khoán việc, mà nông dân coi như cái cùm trên vai với Chủ nghĩa xã hội, với Chủ nghĩa Mác - Lênin” (2). Trong nhiều cuộc họp, hội nghị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ… khi có nhiều ý kiến trái chiều về khoán sản phẩm, đồng chí đã kiên trì giải thích, thuyết phục bằng những con số cụ thể, bằng thực tế của sự thay đổi rõ rệt ở những hợp tác xã khoán sản phẩm, với nguyện vọng tha thiết và nhu cầu tất yếu của người nông dân muốn được “cởi trói”, được “xé rào” để được quyền tự chủ trong sản xuất; qua đó chứng minh việc khoán sản phẩm đến người lao động là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đồng chí đề nghị Đảng cần chủ động công nhận khoán sản phẩm để mở đường cho sản xuất phát triển và đáp ứng nhu cầu chính đáng của nông dân.
Từ kết quả làm thí điểm và căn cứ vào tình hình thực tế, khi kể cả ở những địa phương bị ngăn cản quyết liệt, khoán sản phẩm vẫn chiếm hơn nửa số hợp tác xã, đồng chí Võ Chí Công đề nghị Ban Bí thư ra Thông báo số 22 (ngày 22/10/1980) để ổn định sản xuất, xác định tính pháp lý của khoán mới, đảm bảo quyền lựa chọn cách khoán việc hay khoán sản phẩm của xã viên. Trong các Hội nghị, trước ý kiến cho rằng việc khoán sản phẩm sẽ đưa nông thôn theo con đường tư bản chủ nghĩa, đồng chí Võ Chí Công đã phân tích tình trạng trì trệ, bế tắc, tiêu cực trong các hợp tác xã và chỉ ra nguyên nhân của tình trạng đó là do cơ chế khoán việc đã không còn phù hợp với thực tiễn sản xuất. Khoán sản phẩm từ trong quần chúng nông dân mà ra, trở thành phong trào quần chúng, muốn ngăn cấm cũng không được. Bài học về gần dân, lắng nghe dân, nắm bắt nguyện vọng chính đáng của nhân dân được đồng chí nêu ra để minh chứng đầy thuyết phục cho việc phải thay đổi cơ chế quản lý lạc hậu, xa rời thực tiễn cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân.
Từ kết quả trong thực tiễn, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 100/CT-TW về cải tiến công tác khoán, “mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp, do đồng chí Võ Chí Công là người trực tiếp xây dựng dự thảo. Cốt lõi của Chỉ thị 100 là “bước đầu tạo ra cơ chế quản lý mới để hộ xã viên phát huy quyền làm chủ sản xuất kinh doanh, tạo động lực bằng lợi ích kinh tế, kích thích họ bỏ vốn, sức lao động, đẩy mạnh phát triển sản xuất, đây cũng là khâu đột phá để chuyển cơ chế quản lý hợp tác xã từ mô hình cũ từng bước sang mô hình mới” (3). Tuy đây mới chỉ giải pháp tình thế, chưa phải là hình thức mới về tổ chức quản lý nông nghiệp, mà chỉ là cải tiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, nhưng đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, khuyến khích các hộ đẩy mạnh sản xuất để thu phần vượt khoán, dấy nên khí thế lao động sôi nổi ở nông thôn. Chỉ thị 100 vừa ra đời đã có hiệu quả rõ rệt trong thực tế, nhưng vẫn gặp không ít ý kiến phản đối gay gắt, xem “khoán kiểu này là phá hợp tác xã, xóa bỏ thành quả 20 năm xây dựng hợp tác xã…thậm chí là phá hoại cơ sở xã hội chủ nghĩa ở nông thôn và đi đến xét lại” (4). Mặc dù vấp phải nhiều ý kiến phản đối, nhưng đồng chí vẫn kiên trì quan điểm và tích cực bám sát thực tiễn để tìm những hình thức, biện pháp phù hợp. Từ năm 1982, trên cương vị Thường trực Ban bí thư, đồng chí Võ Chí Công chỉ đạo Ban Nông nghiệp Trung ương soạn thảo nhiều chỉ thị để cụ thể hóa và dần hoàn thiện các hình thức, mô hình cơ chế khoán sản phẩm. Đó là Chỉ thị 19 về điều chỉnh ruộng đất, đẩy mạnh cải tạo nông nghiệp miền Nam; Chỉ thị 25 về việc khuyến khích và hướng dẫn phát triển kinh tế gia đình; Chỉ thị 50 về việc kiện toàn và nâng cao chất lượng các đơn vị quốc doanh sản xuất…
Sau Đại hội VI, đồng chí Võ Chí Công đã đảm nhận trọng trách là Trưởng ban Tiểu ban nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và có đóng góp quan trọng cho sự ra đời Nghị quyết số 10-NQ/TW về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp vào năm 1988. Nội dung chính của Nghị quyết 10 là thực hiện khoán ruộng đất ổn định cho hộ nông dân tới 15 năm, nhiều loại tư liệu sản xuất quan trọng được giao cho xã viên, xã viên được chủ động thực hiện các khâu canh tác, hợp tác xã chuyển sang làm dịch vụ theo yêu cầu của xã viên, xã viên được tự do sử dụng và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường ngoài chi phí cho hợp tác xã và thuế cho Nhà nước. Như vậy, đến khoán 10, quyền tự chủ của nông dân trên cả ba mặt sở hữu, quản lý, phân phối được mở rộng hơn. Hình thức khoán hộ vốn không được nhắc đến trong Chỉ thị 100, đến Nghị quyết 10 đã được công khai thừa nhận và khuyến khích. Tình trạng bất hợp lý trong mối quan hệ lợi ích giữa lao động và phân phối khi hộ xã viên là người trực tiếp làm ra của cải nhưng không có quyền gì, còn ban quản trị hợp tác xã thì lại thao túng tất cả về cơ bản được xóa bỏ. Lợi ích của người lao động được bảo đảm, bởi vậy tạo nên động lực mạnh mẽ cho nông dân sản xuất và thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Cùng với thực hiện khoán 10 là sự đổi mới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới hoạt động kinh tế - xã hội ở nông thôn theo hướng từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, từ chỗ thiếu lương thực triền miên, sản xuất nông nghiệp đã đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước và trở thành một trong những nước xuất khẩu nhiều lúa gạo trên thế giới.



