ĐỒNG CHÍ VÕ TRỌNG BÀNH – NGƯỜI GÓP PHẦN LÀM NÊN HÀO KHÍ XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) là một trong những dấu son chói lọi của tinh thần đấu tranh giành độc lập dân tộc. Giữa những người cộng sản đã góp phần làm nên trang sử ấy, đồng chí Võ Trọng Bành là một tấm gương tiêu biểu về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và sự cống hiến trọn đời cho cách mạng.
Đồng chí Võ Trọng Bành (1907-1975), còn có các bí danh Võ Quang Hán, Võ Trọng Đào, Hồng, Trâm, sinh tại làng Phù Xá, nay thuộc xã Hưng Xá, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước. Cha là ông Võ Trọng Nguyệt, mẹ là bà Nguyễn Thị Huệ. Nhiều người trong dòng họ từng tham gia các phong trào yêu nước, tiêu biểu như chí sĩ Võ Trọng Việng trong nghĩa quân Phan Đình Phùng hay Võ Trọng Đài hoạt động tại Thái Lan. Chính truyền thống ấy đã nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và khát vọng đấu tranh trong ông từ khi còn nhỏ. Những năm học tại Trường Cao Xuân Dục ở Vinh, Võ Trọng Bành sớm tham gia các phong trào học sinh yêu nước.
Năm 1925-1926, ông cùng nhiều học sinh bãi khóa phản đối việc chính quyền thực dân điều chuyển thầy giáo Hà Huy Tập vì nghi ngờ hoạt động cách mạng. Cuộc đấu tranh khiến ông bị bắt, bị đuổi học và cấm dự thi vào các trường công lập trong nhiều năm. Không khuất phục, ông đổi tên thành Võ Quang Hán để tiếp tục việc học tại Hà Tĩnh, đồng thời bí mật tìm đọc các tác phẩm yêu nước và tiến bộ.
Tháng 7 năm 1930, dưới sự giới thiệu của đồng chí Thái Văn Giai, Võ Trọng Bành tham gia Nông hội đỏ và được giao nhiệm vụ gây dựng phong trào cách mạng tại quê hương Phù Xá. Chỉ ít lâu sau, ông đã trở thành một trong những hạt nhân tích cực của phong trào đấu tranh ở Hưng Nguyên.
Ngày 12 tháng 9 năm 1930, hàng nghìn nông dân Hưng Nguyên tiến hành cuộc biểu tình lớn chống chính quyền thực dân và phong kiến. Võ Trọng Bành cùng đoàn biểu tình của làng Phù Xá mang theo cờ đỏ búa liềm, giáo mác và các khẩu hiệu đòi xóa bỏ sưu thuế, đánh đổ thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Để đàn áp phong trào, thực dân Pháp đã điều máy bay ném bom đoàn biểu tình, khiến 217 người hy sinh và 125 người bị thương. Cuộc thảm sát đã gây chấn động cả nước, đồng thời thổi bùng tinh thần đấu tranh của nhân dân Nghệ Tĩnh.
Với những đóng góp nổi bật, tháng 10 năm 1930, Võ Trọng Bành được đồng chí Lê Xuân Đào kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và giao phụ trách công tác tuyên truyền, in ấn truyền đơn, tài liệu cách mạng tại Chi bộ Phù Xá. Khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh phát triển mạnh, thực dân Pháp mở các đợt khủng bố trắng, đốt phá nhà cửa và truy lùng cán bộ cách mạng.
Đầu năm 1931, Võ Trọng Bành được Tỉnh ủy Nghệ An điều động về phụ trách phong trào tại huyện Quỳnh Lưu. Ngày 29 tháng 1 năm 1931, ông chủ trì hội nghị cán bộ tại Quỳnh Yên để triển khai chủ trương đấu tranh của Đảng. Hội nghị quyết định phát động cuộc biểu tình quy mô lớn vào ngày 4 tháng 2 năm 1931 với hàng nghìn quần chúng tham gia. Cuộc đấu tranh đã làm tan rã chính quyền tay sai tại nhiều tổng của huyện Quỳnh Lưu, trở thành một trong những thắng lợi tiêu biểu của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Sau đó, thực dân Pháp tăng cường đàn áp.
Tháng 5 năm 1931, Võ Trọng Bành bị bắt, bị kết án nhiều năm tù và lần lượt bị đày đến các nhà lao Đà Nẵng, Kon Tum rồi Buôn Ma Thuột. Trong lao tù, dù phải chịu tra tấn và lao dịch khắc nghiệt, ông vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ông tham gia các hoạt động đấu tranh của tù chính trị, đồng thời là thành viên của Ngục Thất Tao Đàn, nơi những người chiến sĩ cách mạng dùng thơ văn để cổ vũ tinh thần và nuôi dưỡng niềm tin vào thắng lợi. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là bài thơ "Viếng mồ chiến sĩ", ca ngợi sự hy sinh của những người đi trước và khẳng định niềm tin vào tương lai của cách mạng. Bài thơ được nhiều thế hệ tù chính trị truyền tay nhau như một nguồn động viên to lớn trong những năm tháng lao tù.
Năm 1936, khi Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp thực hiện chính sách ân xá tù chính trị, Võ Trọng Bành được trả tự do. Trở về quê hương, ông tiếp tục mở cửa hàng sách báo để tuyên truyền tư tưởng yêu nước và làm nơi liên lạc bí mật của các chiến sĩ cách mạng. Tuy nhiên, mọi hoạt động của ông đều bị mật thám theo dõi. Năm 1939 và 1940, ông tiếp tục bị bắt, bị đưa đi an trí tại Kon Tum. Sau cuộc đảo chính Pháp của Nhật năm 1945, ông được trả tự do nhưng lại bị quân Nhật bắt giữ thêm một thời gian trước khi trở về quê nhà.
Tháng 6 năm 1945, Võ Trọng Bành tiếp tục tham gia Việt Minh, lãnh đạo phong trào thanh niên và tham gia Ủy ban Khởi nghĩa huyện Hưng Nguyên. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ông đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng và xây dựng chính quyền cách mạng. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ông lần lượt phụ trách công tác Việt Minh tại Thanh Hóa, tham gia đào tạo cán bộ của Liên khu IV, giữ chức Trưởng ban Chính trị Công an Liên khu IV và sau đó công tác trong ngành thuế, thanh tra của Nghệ An và Hà Tĩnh. Sau nhiều năm hoạt động liên tục, sức khỏe suy giảm do hậu quả của những năm tháng tù đày. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục cống hiến cho đến khi nghỉ hưu.
Ngày 5 tháng 1 năm 1975, đồng chí Võ Trọng Bành qua đời, hưởng thọ 68 tuổi. Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, ông được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Ba cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Cuộc đời của Võ Trọng Bành là biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên trung và ý chí bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Dù trải qua những năm tháng lao tù khắc nghiệt, ông chưa từng từ bỏ lý tưởng cách mạng, luôn giữ vững niềm tin vào thắng lợi của dân tộc. Tên tuổi của đồng chí mãi là một phần của lịch sử Xô viết Nghệ Tĩnh và là tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay về tinh thần cống hiến, lòng dũng cảm và khát vọng độc lập, tự do.


