Đồng chí Võ Văn Ngôm
Đồng chí Võ Văn Ngôm còn có tên thân mật là Út Ngôm sinh năm 1926, quê ở xã Mỹ Cầm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Đồng chí nhập ngũ tháng 01 năm 1949; được vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng ngày 25/7/1952.
VÕ VĂN NGÔM
Đồng chí Võ Văn Ngôm còn có tên thân mật là Út Ngôm sinh năm 1926, quê ở xã Mỹ Cầm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đồng chí nhập ngũ tháng 01 năm 1949; được vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng ngày 25/7/1952.
Trong suốt quá trình tham gia cách mạng, từ vị trí là du kích xã đến các vị trí cao hơn, đồng chí luôn tỏ rõ là người mưu trí, dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc, được cấp trên khen thưởng, tiêu biểu như:
Trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, bọn mật thám, tay sai của thực dân Pháp tăng cường đi càn quét, hòng tiêu diệt tận gốc phong trào cách mạng của xã, của huyện (Xã Mỹ Cẩm lúc bấy giờ có rất nhiều căn cứ lõm của huyện Càng Long và huyện Vũng Liêm).
Hôm đó, một trung đội có cả lính Pháp và ngụy ập vào xã đánh vào căn cứ của cấp ủy và du kích. Nắm được thông tin từ cơ sở báo, đồng chí Võ Văn Ngôm ra hiệu cho anh em du kích vào nơi ẩn nấp để chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Chúng lùng sục chung quanh căn cứ đến trưa, không phát hiện được gì, bọn Pháp chán nản. Sau khi tóm được mấy con gà, con vịt, định rút lui thì bất ngờ từ các ngã đường du kích đồng loạt xông ra nổ súng, địch hoảng hốt không trở tay kịp. Trận đánh này, quân du kích đã tiêu diệt được 19 tên, thu 6 súng trường và 1 súng tiểu liên. Sau trận đánh này đơn vị du kích của đồng chí được nhân dân trong xã đến thăm, tặng quà, động viên, khen ngợi chiến sĩ.
Cuối năm 1946, đồng chí được lãnh đạo cử đi học Thiếu sinh quân. Sau 2 năm theo học, ra trường được về công tác tại Trung ương cục miền Nam. Năm 1950, đồng chí được điều về Trung đoàn Công binh Quân khu VIII, đồng chí được giao nhiệm vụ đánh giao thông đường bộ và đánh tàu của địch trên sông. Trong nhiều trận đánh gay go, phức tạp, đồng chí luôn nêu cao tinh thần quyết tâm chiến đấu, xung phong gương mẫu trên nhiều lĩnh vực: từ công việc điều tra nắm tình hình địch, đến hành động dũng cảm táo bạo dẫn đầu đơn vị khi bước vào chiến đấu. Từ năm 1950 đến năm 1954 đồng chí đã tham gia đánh 15 trận, phá huỷ 4 chiếc cầu lớn, đánh chìm 25 tàu địch, gây cho địch nhiều thiệt hại.
Đêm 17 rạng 18 tháng 8 năm 1950, theo chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam, và đơn vị bộ đội tinh nhuệ tập trung đánh vào Tân Sơn Nhất nhằm tiêu hao sinh lực địch. Đồng chí được cấp trên phân công chỉ huy 11 đồng chí đánh mũi khai hỏa. Sau khi tổ chức cắt xong 5 lớp hàng rào, đồng chí sửa lại băng đạn, ôm quả bộc phá tự tạo nặng 5 ký ra hiệu cho đồng đội cùng đồng chí bò sát vào lô cốt chốt ở cửa ra vào của hàng rào thì cũng là lúc 2 tiếng nổ vang lên, 16 tên địch trong đồn bị tiêu diệt. Bọn địch bị tấn công bất ngờ hoảng loạn chạy khắp nơi. Khi sân bay Tân Sơn Nhất đang trong biển lửa thì anh em nhận được tín hiệu rút lui nhằm bảo toàn lực lượng. Trận đánh này, ta tiêu diệt hơn 200 tên, bắt sống 2 tên lính Pháp, 8 lính ngụy, phá hủy hoàn toàn khu cơ giới bay với trên 30 chiếc máy bay chiên đầu; đốt cháy 10 kho xăng, toàn bộ hệ thống lô cốt, căn cứ, nhà kho đều bị cháy rụi. Với chiến thắng vang dội có tính quan trọng của bộ đội ta, quân địch hoang mang lo lắng.
Từ tháng 02/1952 đến quý 1/1953, đồng chí trực tiếp và cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ đánh sập 9 cây cầu lớn nhỏ từ Long An đến Tiền Giang, cắt đứt và làm ngưng trệ giao thông địch, tiêu diệt nhiều tiểu đội lính, diệt hàng trăm tên địch trong đó có nhiều lính Tây - Phi.
Cuối năm 1952, đồng chí được giao nhiệm vụ cùng đồng đội đánh đoàn tàu gồm 22 chiếc của địch đậu ở bến cảng thị xã Vĩnh Long. Đây và kiểm soát hệ thống đồn bót hai bờ sông Cửu Long. Nhận được lệnh, đồng chí dẫn một tổ đi nghiên cứu địa hình, nơi tàu địch thường xuyên neo đậu. Nghiên cứu địa hình xong và được cơ sở ta cung cấp tình hình của địch, đồng chí cùng với tổ quyết định đánh chiếc tàu mang số 720 là chiếc tàu được Pháp lấy làm trung tâm chỉ huy mỗi khi vận hành đội tàu chiến. Đánh chìm được tàu này sẽ diệt luôn một số tàu hộ vệ xung quanh. Đặt xong 10 ký thuốc nỗ, lúc đó là 2 giờ đêm ngày 21 tháng 10 năm 1952. Quay lại vị trí chuẩn bị đánh, thì dây điện bị đứt, địch đang tuần tra, đồng chí cho cả tố rút ra, đồng chí ở lại nối dây điện ngay chỗ đứt và chập điện cho mìn nổ, chiếc tàu 720 chìm ngay tại chỗ và 6 chiếc tàu bên cạnh cũng bị nổ và chìm theo.
Trận này, đồng chí đánh chìm 8 tàu và ca nô, hơn 200 tên địch bị chết Năm 1954, đồng chí được chọn đi tập kết ra Bắc và đưa học văn hóa. Đồng chí là người Trà Vinh, nhưng đồng chí có duyên với mảnh đất xứ Thanh, chọn quê hương xứ Thanh Hóa làm quê hương, ngót 50 năm gắn bó với quê hương thứ hai. Người bạn đời của đồng chí cũng là nữ du kích tên Trịnh Thị Lành, quê quán xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân.
Quá trình chiến đấu, đồng chí Võ Văn Ngôm đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng 01 Huân chương Quân công hạng ba, 4 lần được tỉnh và khu tuyên dương công trạng và tặng Bằng khen, khi về hưu đồng chí được phong hàm Thượng tá.
Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Võ Văn Ngôm được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng chí 8 lần được tỉnh và Quân khu tuyên dương công trạng và tặng Bằng khen.



