Đóng góp của đồng chí Hoàng Ngân với cách mạng Việt Nam
Liệt sĩ Hoàng Ngân (1921 - 1949) là một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí đã cống hiến trọn tuổi xuân cho sự nghiệp giải phóng đất nước và ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Đồng chí từng là Bí thư Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc Việt Nam (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) đầu tiên, Chủ nhiệm đầu tiên của báo Phụ nữ Việt Nam, một trong những người đi đầu trong phong trào phụ nữ Việt Nam.
1.Hoạt động cách mạng của đồng chí Hoàng Ngân
Đồng chí Hoàng Ngân tên thật là Phạm Thị Vân sinh năm 1921 tại phố Chavassieux, nay là phố Quang Trung, thành phố Hải Phòng. Ngay khi mới 14 tuổi, cô bé nữ sinh Thành Chung xinh đẹp, lanh lợi vừa đi học, vừa đi làm liên lạc, qua mũi bọn mật thám, mã tà, Việt gian đưa thư, công văn cho các chú, các anh từ chợ Sắt, Nhà máy tơ, chợ Cột Đèn qua Bến Bính, Thủy Nguyên. Dần dần chị được tổ chức Đảng giao nhiệm vụ có nhiều thử thách, khó khăn trong hoàn cảnh địch thường xuyên theo dõi bám sát để hãm hại chị. Chị được tổ chức Đảng tin cậy, quần chúng che chở dùm bọc và hết sức mến yêu.
Năm 1936, trước sự chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước và nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, thảm họa chiến tranh thế giới nổ ra. Thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng bộ Hải Phòng chủ trương phát động giai cấp công nhân và chú trọng phụ nữ nên phong trào được phát động, triển khai rầm rộ ở các nhà máy, công sở, trường học, đường phố, chợ búa. Phần lớn các cuộc đấu tranh và hoạt động công khai hợp pháp do phụ nữ đảm nhiệm. Tháng 2/1937, phái đoàn Gô-đa đến Hải Phòng. Phạm Thị Vân cùng các chị em khác tổ chức các cuộc mít tinh từ 200 đến 300 người tham dự, đưa đơn đòi Pháp phải phòng thủ Đông Dương, ngăn chặn chiến tranh, đòi dân sinh dân chủ, thả tù chính trị[1]. Các cuộc mít tinh thường do các chị em trong đó Phạm Thị Vân vừa là người tổ chức, vừa là người diễn thuyết.
Năm 1938, khi 17 tuổi, Phạm Thị Vân được tổ chức kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Trưởng thành trong máu lửa của cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, Phạm Thị Vân sớm thể hiện là người có năng lực, có tài vận động quần chúng nhân dân lao động tham gia các cuộc đấu tranh cách mạng. Nhanh nhẹn, mưu trí, dũng cảm, chị luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng giao.
Thời gian này, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ và rộng khắp của nhân dân ta, thực dân Pháp tiến hành khủng bố. Trước thủ đoạn đàn áp mới của kẻ thù, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ đã đề ra kế hoạch tăng cường củng cố, giữ vững các cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng, phát triển lực lượng cách mạng. Tháng 9 năm 1939, tại Hội nghị mở rộng của Xứ ủy Bắc Kỳ tại Vạn Phúc, đồng chí Hoàng Văn Thụ được Trung ương phân công làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ[2]. Nhận thấy Phạm Thị Vân năng nổ trong hoạt động cách mạng, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ Hoàng Văn Thụ tin tưởng giao cho chị công tác phụ vận, binh vận, xây dựng cơ sở cách mạng ở Hà Nội, Hà Đông, Hưng Yên.
Năm 1939, cùng với chị Vương Thị Viếng, Chu Thị Kim Sơn, Phạm Thị Vân hoạt động rất tích cực cùng với chị em công nhân nhà máy Tơ. Sau 9 ngày đấu tranh kiên trì quyết liệt, đến ngày 25/5/1939, chủ nhà máy phải nhượng bộ và thực hiện mọi yêu sách của công nhân. Cuộc đấu tranh thắng lợi cổ vũ phong trào đấu tranh của chị em công nhân toàn Bắc Bộ, tiếng vang lan khắp trong và ngoài nước. Cuộc đình công của công nhân nhà máy Tơ diễn ra ngày 30/5/1939, sau đó biến thành cuộc biểu tình kéo lên tòa Đốc Lý, Sở Cẩm phản đối các cuộc đàn áp. Trong cuộc đấu tranh này, đồng chí Tô Hiệu, Bí thư Thành ủy trực tiếp lãnh đạo. Chị Phạm Thị Vân cùng một số chị hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Nói về cuộc đấu tranh này, văn thư mật thám số 9155-S ngày 5/6/1939 có ghi: Trong số 250 người bị bắt có chị Hoàng Ngân. Thẩm tra căn cước, thì 70 người bị đưa ra truy tố trước toà. Mật thám Hải Phòng đặc biệt chú ý sự có mặt của chị Hoàng Ngân và một số chị khác giữ vai trò quan trọng trong các cuộc biểu tình, đình công. Trước sự đấu tranh của chị em, chị Hoàng Ngân (tức Phạm Thị Vân) được trả tự do. Chị lại lăn lộn với phong trào thợ thuyền trong nhà máy Tơ, nhà máy Chai và trực tiếp chỉ đạo phong trào phụ nữ tiểu thương ở chợ Sắt và nhiều lần đấu tranh chống thuế, đạt kết quả cao[3].
Qua hoạt động thực tiễn, với nhiệt tình và trách nhiệm cao, chị Phạm Thị Vân trở thành người cán bộ có năng lực công tác vận động quần chúng, tham gia tổ chức các cuộc đấu tranh của thợ thuyền và nhân dân lao động trong thành phố. Sự xuất hiện của chị Phạm Thị Vân trong các cuộc biểu tình, bãi công, bãi thị, diễn thuyết càng tăng thêm lòng tin yêu mến phục của quần chúng. Năm 20 tuổi, Phạm Thị Vân được bầu vào Ban Thường vụ Hội Phụ nữ Phản đế Bắc Kỳ.
Phạm Thị Vân hoạt động hăng say, vượt qua mọi gian truân. Đầu năm 1941, anh Hoàng Văn Thụ, chị Phạm Thị Vân đi Quảng Ninh, đến làm việc ở Móng Cái. Đến Đông Triều - Yên Tử, ra bãi tập xem anh Hoàng Oánh học Trường Sĩ quan Hoàng Phố (Trung Quốc) về huấn luyện cho đảng viên và anh em cốt cán cách đánh biệt động, đánh du kích. Bài giảng khẩu lệnh nhiều tiếng Hán, tiếng Tây, chị Vân đã tập hợp, viết, dịch, biên soạn thành tiếng Việt, sau khi được anh Thụ, anh Oánh góp ý, chỉnh sửa rồi in thành nhiều bản rô-nê-ô, tài liệu này được dùng huấn luyện cho lực lượng vũ trang Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Chị Vân cũng lao vào tập lăn lê, bắn súng, gài mìn, ném lựu đạn… Sau này, chị Vân còn phổ biến, huấn luyện một số cán bộ, đội du kích Đường 5 mang tên Hoàng Ngân ở Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương cách đánh phục kích xe ô tô và tàu hỏa địch, gây kinh hoàng cho giặc Pháp.
Năm 20 tuổi, chị Phạm Thị Vân được Xứ ủy giao lập Ban Phụ vận Bắc Kỳ. Trong cuốn lịch sử của phụ nữ Hà Nội có viết: “Khi lập Ban Phụ vận Bắc Kỳ, chị Hoàng Ngân làm Trưởng ban, rất chú trọng chỉ đạo phụ nữ Hà Nội”[4].
Cuối tháng 5/1941, chị Vân bị bắt tại cuộc họp Xứ ủy Bắc Kỳ ở ngoại ô Hà Đông. Trước sau như một, chị giữ vững khí tiết của người cộng sản kiên cường, sắt son vì Đảng, vì dân. Ba tháng sau, Phạm Thị Vân bị đưa ra tòa trong một phiên xử công khai của tòa án tỉnh Hà Đông. Kết thúc phiên tòa, thực dân Pháp kết án Phạm Thị Vân 12 năm tù, chuyển giam tại nhà tù Hỏa Lò. Trong tù, với sức trẻ và lòng nhiệt huyết, Phạm Thị Vân được bầu vào tiểu ban công tác tư tưởng, bồi dưỡng chính trị cùng với các chị Nguyễn Thị Quang Thái, Trần Thị Sinh, Trương Thị Mỹ. Ngoài việc phổ biến tình hình thời cuộc, nắm các diễn biến tư tưởng để giải đáp kịp thời, bồi dưỡng các kiến thức phổ thông về chính trị, Phạm Thị Vân và các thành viên trong tiểu ban còn lo việc dạy học cho một số chị em chưa biết chữ; vận động chị em đấu tranh đòi được ra sân phơi nắng, không ăn gạo hẩm, cá thiu, định kỳ được nhận đồ tiếp tế từ gia đình... để dễ liên lạc, phối hợp đấu tranh. Thương cuộc sống khổ cực, thiếu thốn của chị em trong tù, chị viết thư gửi nhờ gia đình tiếp tiếp tế lương thực, thực phẩm và tiền thường xuyên để cải thiện cuộc sống chung cho toàn trại[5]. Chị Vân vận động anh chị em tù chính trị đoàn kết, đấu tranh đòi giam chung tù nữ. Cai ngục phải cho chị Vân giam chung với các chị em khác, chị tổ chức học văn hoá, dạy đan, thêu. Ngồi ngay trên sàn nhà tù lạnh giá, chị Vân giảng văn hóa - chính trị cho chị em nung nấu lòng căm thù giặc, vận động chị em tuyệt thực, tố cáo nhà tù cho ăn gạo mốc, cá khô mục nát. Lấy lý do chị em tù chính trị đau yếu, đấu tranh đòi được nhận tiếp tế hàng tháng…
Sau Hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng (năm 1943) ở Võng La (Đông Anh, Hà Nội) triển khai Nghị quyết: “Toàn bộ công tác của Đảng phải nhằm vào chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang”. Anh Hoàng Văn Thụ đi chỉ đạo công tác vận động binh lính địch bị bắt (ngày 21/9/1943) ở ngõ Năm Diêm, khu Tám Mái (nay là khoảng đầu đường Giảng Võ, Hà Nội). Chúng đưa anh vào biệt giam ở nhà tù Hỏa Lò với mức án tử hình. Chị Vân liên lạc xin ý kiến, được anh Thụ phân công phụ trách chi bộ nhà tù, nhận chỉ thị của Xứ ủy Bắc Kỳ, để có sự phối hợp đấu tranh từ bên ngoài.
Sau khi Hoàng Văn Thụ hy sinh, Phan Thị Vân đổi tên là Hoàng Ngân. Tháng 3 năm 1945, lợi dụng thời cơ Nhật đảo chính Pháp, công tác quản lý của quân Nhật trong nhà tù còn lỏng lẻo, chi bộ Hỏa Lò đã tổ chức cho tù nhân trốn thoát bằng nhiều hình thức như trèo tường, chui cống... Hoàng Ngân cùng một số chị em đã trà trộn vào đám đông người nhà vào tiếp tế, thoát khỏi nhà tù Hỏa Lò tiếp tục hoạt động cách mạng.
Cách mạng thành công, năm 1946, chị được Xứ ủy Bắc Kỳ điều về làm Bí thư đoàn phụ nữ cứu quốc Hải Dương. Chỉ một thời gian ngắn, phong trào phụ nữ Hải Dương được đánh giá là đơn vị mạnh. Sau đó, Hoàng Ngân được Đảng giao làm Thường vụ Khu ủy Liên khu Ba, phụ trách Ban dân vận và Phụ vận. Tuy sức khoẻ còn yếu do di chứng bị đòn tra tấn, cầm cố trong nhà tù, ở tuổi 25 trẻ trung, đầy nhiệt huyết, chị vẫn lao vào công việc miệt mài ngày đêm đồng thời tranh thủ thời gian học lý luận, văn hóa, đúc kết kinh nghiệm phong trào phụ nữ cả nước để tự nâng cao trình độ.
Toàn quốc kháng chiến, Hoàng Ngân cùng cơ quan di chuyển qua Vĩnh Yên, lên Tam Đảo, vượt sang An toàn khu (ATK) của Trung ương ở huyện Đại Từ (Thái Nguyên), trụ lại ở một bản gần Gốc Hồng, cạnh Đèo Khế. Tháng 10/1947, Hoàng Ngân được bầu làm Bí thư Trung ương Đoàn Phụ nữ cứu quốc Việt Nam đầu tiên (nay là Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam). Năm 1948, trước yêu cầu của việc tuyên truyền, vận động đoàn kết phụ nữ kháng chiến, kiến quốc, Hoàng Ngân sáng lập Báo Phụ nữ Việt Nam kiêm Tổng biên tập đầu tiên của Báo… Là một trong số lãnh đạo Trung ương còn rất trẻ, 27 tuổi, xông xáo, có trình độ, dày dạn kinh nghiệm, Hoàng Ngân vừa lo ổn định nơi ăn, tổ chức bộ máy, xây dựng Đoàn Phụ nữ cứu quốc các tỉnh, huyện, xã, vừa vận động chị em tích cực tham gia phong trào “Mùa đông binh sĩ”, hội “Mẹ chiến sĩ”, “Đón thương binh về làng”, “Thi đua ái quốc”, thành lập đội du kích vùng sau lưng địch… đưa hoạt động của phụ nữ cứu quốc Việt Nam lên tầm cao mới. Tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, bà Lưu Thị Liên là giao thông của Trung ương Đoàn Phụ nữ cứu quốc khi mới 15 tuổi, nay đã vào tuổi 74, cho biết: Do những vết thương vì bị tra tấn tù đày tái phát, bị sốt rét ác tính, ngày 17/7/1949 chị Hoàng Ngân được chị Thảo, chị Nhi, chị Thư, chị Ngọc Khanh, chị Thủy, chị My và anh Hồng bên Nông Hội cáng đưa sang y xá Trần Quốc Toản (nay là Bệnh viện 354 Bộ Quốc phòng) ở Mỹ Yên (Đại Từ), chị hy sinh lúc 17 giờ ngày 17/7/1949 khi 28 tuổi. Các y bác sĩ và chị em đều thương tiếc Hoàng Ngân. Chị đi vào cõi vĩnh hằng trong sự tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng bào, nhất là phụ nữ Liên khu 3.
2. Đóng góp của đồng chí Hoàng Ngân với cách mạng
2.1. Lãnh đạo phong trào phụ nữ
Hơn 10 năm hoạt động cách mạng, bà đã được giao nhiều trọng trách: Bí thư Đoàn Phụ nữ cứu quốc Hà Nội (1945), Bí thư Đoàn Phụ nữ cứu quốc Hải Dương (1946), Bí thư Trung ương lâm thời đoàn Phụ nữ cứu quốc Việt Nam, Bí thư Ban Phụ nữ cứu quốc Bắc Bộ (1947)… Bà là Bí thư đầu tiên của Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc Việt Nam, sau đó là Bí thư Ban Phụ nữ cứu quốc Bắc Bộ và không ngừng đẩy mạnh phong trào phụ nữ ở các địa phương.
2.2. Sáng lập báo chí cách mạng
Năm 1948, kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn ác liệt, Hội Liên hiệp Phụ nữ phải đi nhiều nơi: Thái Nguyên, Bắc Kạn… bà vẫn không ngừng đẩy mạnh phong trào, sáng lập tờ báo Tiếng gọi phụ nữ (tiền thân báo Phụ nữ Việt Nam) với bài xã luận gây nhiều tiếng vang lớn trong phong trào cách mạng và kiêm nhiệm chức vụ Tổng Biên tập đầu tiên.
2.3. Hy sinh và ghi nhận
Sau khi vượt ngục nhà tù Hỏa Lò và bị tra tấn dã man, bà đã hy sinh vào tháng 7 năm 1949 tại Chiến khu Việt Bắc khi mới 28 tuổi. Sau này, Trung ương Đoàn phụ nữ cứu quốc Việt Nam chuyển lên đồi Pù Ngạm Ngà, xã Điềm Mặc, ATK Định Hoá, được Bác Hồ cho đặt tên là Đồi Hoàng Ngân. Ở Nam Định, Hải Phòng có đường, phố Hoàng Ngân. Ngày 14/7/2003, Đảng, Nhà nước truy tặng liệt sỹ Hoàng Ngân Huân chương Độc lập. Ngày 5/12/2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký Quyết định số 1481/2007/QĐ/CTN truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân cho Liệt sĩ Phạm Thị Vân (Hoàng Ngân), Bí thư TW Đoàn phụ nữ cứu quốc Việt Nam đầu tiên. Đây là sự ghi nhận, đánh giá to lớn của Đảng và Nhà nước đối với những đóng góp hy sinh của Liệt sĩ Hoàng Ngân cho sự nghiệp cách mạng nói chung và sự nghiệp giải phóng phụ nữ nói riêng.
Nhân dịp kỷ niệm 98 năm ngày Quốc tế phụ nữ ngày 08/3/2008, thừa lệnh của Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã trao tặng Bằng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đại diện gia đình liệt sĩ Hoàng Ngân trước sự chứng kiến của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo các tỉnh/thành phố quê hương và nơi liệt sĩ Hoàng Ngân gắn bó công tác; đại diện các ban, ngành, đoàn thể Trung ương; các đồng chí cán bộ cùng công tác với liệt sỹ Hoàng Ngân; các đồng chí cán bộ, lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ và đông đảo cán bộ các Ban, đơn vị Trung ương Hội, một số tỉnh/thành Hội.
Để ghi nhớ công lao của người nữ Bí thư Trung ương lâm thời, Đoàn Phụ nữ cứu quốc Việt Nam đặt tên ngọn đồi nơi cơ quan Đoàn đặt trụ sở tại Việt Bắc là “Đồi Hoàng Ngân”. Chính quyền và nhân dân thành phố Hải Phòng, quê hương chị, đã trân trọng lấy tên chị đặt cho một đường phố để lưu danh một chiến sĩ cách mạng trọn đời hy sinh vì lý tưởng cộng sán cao đẹp.
Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hưng Yên đã phát động toàn thể cán bộ, hội viên noi gương chiến đấu kiên cường của chị và dấy lên phong trào “Nữ du kích Hoàng Ngân”, động viên chị em toàn tỉnh ra sức đấu tranh chống thực dân Pháp, đóng góp cho phong trào chiến tranh nhân dân phát triển mạnh nhất đồng bằng Bắc Bộ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ: “Đoàn kết quân dân, đánh thắng giặc Pháp”.
Sau này, nhiều con đường, trường học và đội nữ du kích được mang tên bà để ghi nhớ công ơn và sự hy sinh của người nữ anh hùng. Nhiều thành phố có đường phố mang tên Hoàng Ngân, bao gồm Nam Định (quê hương), Hải Phòng (nơi sinh trưởng), Thái Nguyên (nơi mất) và Hà Nội (nơi bà bị tù đày). Thành phố Hồ Chí Minh cũng có tên bà được đặt cho đường 41, Phường 16, Quận 8.
Với những cống hiến to lớn cho cách mạng, Hoàng Ngân được phong tặng, truy tặng các danh hiệu: Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Hồ Chí Minh. Sự ra đi của chị để lại niềm tiếc thương vô hạn, đồng thời thắp sáng hơn nữa ngọn lửa đấu tranh của phụ nữ cả nước nói chung và phong trào phụ nữ Khu 3, phong trào phụ nữ Hải Dương, Hưng Yên nói riêng.
3. Ra đời và phát triển Phong trào “Nữ du kích Hoàng Ngân”
3.1. Sự ra đời Phong trào “Nữ du kích Hoàng Ngân”
Để phát huy tinh thần chiến đấu của anh hùng liệt sỹ Hoàng Ngân, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của chị em trong tỉnh, ngày 02/02/1950, tại thôn Muội Sảng (Hưng Đạo, Tiên Lữ), Tỉnh hội Phụ nữ Hưng Yên tổ chức Lễ truy điệu chị Hoàng Ngân. Tại Lễ truy điệu, toàn thể chị em thống nhất đề nghị Tỉnh ủy Hưng Yên thành lập Đội du kích Hoàng Ngân, lấy tên gọi phong trào kháng chiến của phụ nữ Hưng Yên là “Phong trào du kích Hoàng Ngân”. Tên gọi phong trào du kích Hoàng Ngân ra đời từ đó và trở thành một lực lượng vũ trang quan trọng trong tỉnh, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh và Tỉnh đội Hưng Yên.
Ngày 09/02/1950, tại Thái Bình, Tỉnh ủy Hưng Yên họp Hội nghị đặc biệt ra Nghị quyết xây dựng đội Nữ du kích Hoàng Ngân, mở trường đào tạo nữ cán bộ Du kích Hoàng Ngân. Từ đây, phong trào Du kích Hoàng Ngân phát triển mạnh mẽ hình thành hệ thống từ thôn, xã, huyện đến tỉnh.
Đến tháng 12/1950, Tỉnh ủy ra Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của dân quân du kích trong đó có “Nữ du kích Hoàng Ngân”. Sau lễ phát động, tỉnh hội và tỉnh đội còn bàn kế hoạch phối hợp thực hiện. Tỉnh hội có trách nhiệm phổ biến tiểu sử của chị Hoàng Ngân và động viên chị em học tập tinh thần của chị. Lựa chọn người có đủ tiêu chuẩn tham gia đội nữ du kích Hoàng Ngân, hội còn động viên thường xuyên tinh thần chiến đấu và sản xuất của chị em. Các cấp hội đều phân công đồng chí cấp phó của hội sang tham gia cấp phó của huyện, xã, thôn đội. Đồng chí Lê Thu Thịnh, phó hội trưởng, được phân công sang tỉnh đội để phối hợp với phong trào “Nữ du kích Hoàng Ngân” của tỉnh và cùng tỉnh đội mở trường lấy tên là trường Hoàng Ngân. Đồng chí Lê Thu Thịnh trực tiếp là hiệu trưởng của trường để huấn luyện các chị em là cán bộ cấp phó của huyện, xã, thôn khoảng hơn 200 người tại tỉnh Thái Bình. Những kiến thức được lĩnh hội, chị em đã đưa về vận dụng vào thực tiễn công tác và đạt kết quả tốt.
3.2. Phong trào“Nữ du kích Hoàng Ngân” phát triển
Tính đến tháng 7/1952, Đội nữ du kích Hoàng Ngân tỉnh Hưng Yên đã thu hút 7.365 chị em tham gia, mỗi xã có một trung đội từ 60 - 70 người, các hình thức tác chiến mới: Hóa trang, độn thổ, phục kích đánh địch trên Đường 39, đường sắt và Đường số 5 làm cho binh lính địch lo sợ đến nỗi “đứng gác thấy phụ nữ đi qua cũng sợ”[6].
Từ năm 1952, ta đẩy mạnh đánh phục kích tiêu diệt lực lượng địch, phá hết hệ thống tháp canh, hương đồn. Khu du kích được mở rộng, chị em du kích lại sáng tạo thêm nhiều cách đánh linh hoạt, chủ động “tìm địch mà diệt”. Từ năm 1953 đến đầu năm 1954, có hơn 1.804 cuộc đấu tranh chống bắt lính, đòi 4574 thanh niên thoát khỏi tay giặc. Trong công tác địch vận, nòng cốt là lực lượng nữ du kích Hoàng Ngân chỉ riêng tháng 7 năm 1954 toàn tỉnh vận động được 1.400 sĩ quan, binh lính địch mang súng và 14 xe ô tô về với nhân dân.
Điểm lại một số trận đánh để thấy được chiến công của đội quân “tóc dài” Hoàng Ngân là không hề nhỏ.
Sáng ngày 25/9/1951, địch từ các hướng tiến vào Long Cầu, Phú Mãn. Một cánh quân khác của chúng tiến vào Phan Xá, Tống Xá và Ngũ Lão. Các nữ du kích Hoàng Ngân đã dũng cảm chiến đấu, cùng với bộ đội đánh bại nhiều đợt tiến công của địch. Ban ngày, chị em khắc phục khó khăn tránh đạn pháo; nấu cơm tiếp tế cho bộ đội chiến đấu. Tối đến bộ đội di chuyển trận địa, chị em lại tham gia cáng thương binh, dẫn tù binh về nơi quy định. Số ở lại mai táng liệt sĩ, sơ tán dân sang xã khắc đề phòng hôm sau địch vào làng. Kết quả đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.000 lính Âu - Phi và cơ bản bảo toàn được cơ sở.
Ngày0 3/4/1952, ba tiểu đoàn lính Âu - Phi càn vào xã Tân Dân (Khoái Châu). Nữ du kích Hoàng Ngân và nam du kích phối hợp với Đại đội 22, diệt 200 địch. Ngày 15/5/1952, nữ du kích Hoàng Ngân phối hợp với Đại đội 22 đánh càn ở Ngọc Nha (Khoái Châu) diệt 3 đại đội địch. Suốt 1 tháng chống cuộc càn Lạc Đà (tháng 5 năm 1952), nữ du kích Hoàng ngân phối hợp với Đại đội 27, phân tán hoạt động ở khu Đức Nhuận, Đông Tảo (Khoái Châu), đào hầm bí mật, phục kích, đánh du kích nhỏ lẻ, diệt hàng trăm tên địch…
Mặc dù tiêu diệt được lực lượng rất lớn của địch, nhưng cũng có nhiều nữ du kích Hoàng Ngân đã ngã xuống, trong đó phải kể tới 3 Anh hùng liệt sĩ:
Chị Bùi Thị Cúc (xã Quang Trung, huyện Ân Thi, Hưng Yên) bí mật hoạt động trong lòng địch, sau khi cùng đồng đội giết được tên Nhi ở bốt Cảnh Lâm (Yên Mỹ), chị bị bắt. Mặc dù bị tra tấn, đánh đập cực hình, chị vẫn không khai nhận những người khác để bảo vệ cơ sở cách mạng; chị đã bị tử hình, chị xứng danh với 6 chữ vàng “Sống anh dũng, chết vẻ vang”.
Chị Trần Thị Khang (xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên), Huyện ủy viên, Hội trưởng phụ nữ huyện Phù Cừ. Ngày 08/7/1950, chị về công tác tại xã Minh Tiến gặp trận càn lớn của địch. Chúng bắt chị giải về bốt La Tiến. Mặc dù bị đánh đập, tra tấn dã man, chị không hề khai báo… Địch đưa chị ra hành hình ngay gốc đa trên bờ sông Luộc.
Chị Trần Thị Tý (xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên), tham gia nữ du kích Hoàng Ngân khi mới 15 tuổi, làm liên lạc và tham gia chiến đấu. Trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, chị tham gia đánh hàng chục trận, cùng đơn vị diệt hàng trăm tên địch. Đầu năm 1954, chị phối hợp với bộ đội đánh bốt Triều Dương, bắn 5 quả đạn, diệt gần 1 tiểu đội địch, làm sập một lô cốt. Trận đánh thắng lợi nhưng chị đã hy sinh.
Cả ba chị đều được Nhà nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.
Với truyền thống cần cù lao động và dũng cảm chiến đấu, được các cấp ủy quan tâm nên thành tích của chị em đạt được rất toàn diện, thể hiện ở hai mặt:
Về sản xuất
Chị em phải thay chồng chăm sóc cha mẹ già và nuôi dạy con cái. Địch đến thì chiến đấu, địch đi thì sản xuất. Chị em phải làm ngày, làm đêm kể cả ruộng ở sát đường giao thông.
Chị em thường đem theo vũ khí để nếu cần thì chiến đấu. Để kịp thời phục vụ và tránh địch, có khi chị em phải lao động vào các đêm sáng trăng nên có khẩu hiệu: “Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”. Khẩu hiệu ra đời từ đó. Nhờ vậy, thời vụ sản xuất đảm bảo lúa và hoa màu vẫn tốt, thực hiện được khẩu hiệu “hậu cần tại chỗ”.
Về chiến đấu
Hầu hết chị em đều tham gia dân quân du kích, sau khi phát động số lượng nữ du kích đông hơn nam du kích. Phong trào chiến đấu của nữ du kích toàn tỉnh lên rất mạnh và đồng đều. Khi địch đến càn, bộ đội và chị em du kích cải trang gánh mía, quang, thúng, cào, cuốc đi làm đồng, rồi đột nhập vào chợ, lừa lúc địch đang khám xét nhà dân, du kích bất ngờ dùng đòn gánh phang đập bọn lính làm cho chúng không kịp trở tay. Câu chuyện “đòn gánh đánh Tây giữa ban ngày” bằng vũ khí thô sơ, lại đánh địch ngay tại sào huyệt đã trở thành câu chuyện vui được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là tại các chợ và các đường giao thông.
Ở các lĩnh vực khác, chị em cũng hoạt động xuất sắc như chị em giao thông. Từ năm 1948 đến năm 1949 có hơn 600 anh chị em giao thông thì 500 là nữ[7]. Chị em dũng cảm và mưu trí khi đi qua các đồn bốt, khéo léo cất giấu ngụy trang để không thất thoát tài liệu. Còn các mẹ, các chị trung niên có điểm mạnh là đào hầm bí mật tại nhà để bảo vệ đảng viên và bộ đội. Thời điểm này ở vùng tạm chiếm, hầm bí mật là quan trọng nhất để bảo vệ cán bộ và bộ đội, đảm bảo Đảng lãnh đạo nhân dân kháng chiến thành công.
Về đấu tranh chính trị
Các mẹ, các chị có khả năng đấu tranh chính trị hợp pháp và làm tốt công tác địch vận khiến nhiều anh em binh lính trong bốt ra hàng, quân ta không tốn một viên đạn, một giọt máu và thu được vũ khí.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nữ du kích Hoàng Ngân giữ vai trò quan trọng trong thế trận chiến tranh nhân dân, cùng quân dân trong tỉnh đánh hơn 1.000 trận, lập chiến công lẫy lừng. Hàng trăm nữ du kích đã chiến đấu và anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, tiêu biểu là Anh hùng Bùi Thị Cúc, Trần Thị Tý, Vũ Thị Kính (tức Trần Thị Khang)…
Từ sau năm 1954, phụ nữ Hưng Yên nói chung, nữ du kích Hoàng Ngân nói riêng lại bắt tay vào công cuộc cải tạo và xây dựng CNXH, hàn gắn vết thương chiến tranh, xóa giặc đói, giặc dốt, khắc phục tập tục lạc hậu… Đặc biệt, phụ nữ tích cực tham gia làm thủy lợi, đào đắp hàng vạn mét khối đất đá, đắp đê… Tiêu biểu là các chị Phạm Thị Vách (người xã Hùng Cường, huyện Kim Động), Vũ Thị Tỵ (huyện Tiên Lữ), Lê Thị Lục (huyện Khoái Châu)… Thời kỳ nào, lĩnh vực nào, nữ du kích Hoàng Ngân và phụ nữ Hưng Yên nói chung đều đóng góp công sức rất lớn trong việc xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước.
Do lập nhiều thành tích xuất sắc tiêu biểu, một trung đội du kích Hoàng Ngân Hưng Yên được cử tham gia Lễ diễu binh lớn chào mừng Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến và dịp Quốc khánh 02/9/1955. Tiếp đó, phong trào nữ du kích Hoàng Ngân được Bộ Quốc phòng tổng kết kinh nghiệm và nhân rộng điển hình, phổ biến cho các tỉnh trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và miền Bắc.
Tấm gương của chị Hoàng Ngân có ảnh hưởng sâu rộng, là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ noi theo. Thông qua phong trào quần chúng mang tên nữ du kích Hoàng Ngân đã góp phần quan trọng cho chiến tranh nhân dân phát triển cao, hình thành thế trận “thiên la địa võng” khiến cho quân địch khiếp sợ. Phong trào nữ du kích Hoàng Ngân phát triển đúng hướng, thu hút nhân tâm, khơi gợi lòng yêu nước và quyết tâm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây là bản hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một trang sử vàng chói lọi, một bài học lớn của chiến tranh nhân dân do Đảng lãnh đạo, không những có ảnh hưởng lớn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên mà còn ảnh hưởng lớn ở đồng bằng sông Hồng.
Hình ảnh, tinh thần dũng cảm chiến đấu và những chiến công của đồng chí Hoàng Ngân sẽ mãi là nguồn động lực để thế hệ phụ nữ hôm nay ra sức thi đua tiếp tục học tập, phát huy, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước.



