Đóng góp của lực lượng dân công trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử dân tộc Việt Nam, đánh dấu kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Để giành thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược, Trung ương Đảng và Chính phủ đã huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó lực lượng dân công đóng góp vai trò quan trọng.
Để phục vụ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, theo kế hoạch, số dân công phải huy động từ trung tuyến trở lên khoảng 15.500 người gồm dân công theo đơn vị vận tải, xe đạp khuân vác, chưa kể số dân công của Hội đồng cung cấp mặt trận. Số dân công dự trữ là 30.000 người[1]. Nhiệm vụ của lực lượng dân công là: chuyển gạo, đạn, mở và sửa các con đường vào khu vực quanh Điện Biên Phủ. Trong đó, lực lượng dân công giữ vai trò chính trong công tác làm đường.Ban đầu với phương án “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, lực lượng dân công phải huy động để đảm bảo cho 3 đại đoàn bộ binh, 1 trung đoàn lựu pháo, 1 trung đoàn pháo cao xạ, 14 đại đội pháo, 4 tiểu đoàn công binh, với quân số 44.000 người tập trung tại Điện Biên Phủ. Nhu cầu muối cho phương án này là 140 tấn, gạo là 7.730 tấn, 465 tấn lương thực khô, 434 tấn đạn dược, thời gian chuẩn bị từ tháng 12/1953 đến ngày 20/1/1954[2]. Với nhiệm vụ năng nề đó, lực lượng dân công không quản ngày đêm, dốc sức để hoàn thành nhiệm vụ. Do các tuyến đường tiến vào trận địa bao vây tiến công đang tập trung sử dụng vào việc kéo pháo nên dân công khiêng vác và xe đạp thồ không đi được. Nếu chờ kéo pháo xong mới vận chuyển đạn gạo thì không kịp. Trước tình hình đó, ta quyết định vận chuyển theo đường mòn vượt núi qua Khẩu Hu, Cò Nhảy ở phía Bắc Điện Biên Phủ rồi vòng sang phía Tây. Dân công phải khiêng vác và xe đạp thồ đi tiếp ngay sau bộ đội kéo pháo. Do vậy, khi bộ đội và pháo tới các trận địa bao vây tiến công ở xung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ thì đạn và gạo đã đến vị trí tập kết sẵn sàng phục vụ bộ đội chiến đấu.Khi ta chuyển phương châm tiêu diệt địch ở Điển Biên Phủ sang “đánh chắc, tiến chắc” để phù hợp với tình hình thì nhu cầu bảo đảm cho chiến dịch về mọi mặt tăng nhanh vì xác định đây là nhiệm vụ lâu dài. Một vấn đề lớn được đặt ra là: Lực lượng sử dụng tăng thêm, thời gian chiến dịch kéo dài, nhu cầu bảo đảm tăng vọt; Huy động lương thực tại chỗ không đáp ứng được mà phải tổ chức vận chuyển từ các vùng tự do Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 lên. Số lượng thương binh dự kiến phải cứu chữa tăng gấp đôi. Các tuyến giao thông bị đánh phá cũng cần phải được sửa chữa lại… Quyết tâm bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi, Trung ương Đảng, Chính phủ ra chỉ thị động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến.Việc thay đổi kế hoạch tác chiến đối với lực lượng dân công là một bất ngờ, khi thấy bộ đội phải kéo pháo ra tinh thần của chị em hoang mang, số người hết hạn phục vụ muốn trở về địa phương. Nhưng khi được quán triệt, phần lớn chị em ở lại và tiếp tục công tác. Lực lượng dân công phải làm việc nhiều hơn để đáp ứng yêu cầu khẩn trương của chiến dịch. Các tuyến đường vận chuyển trong chiến dịch đều dài: Tuyến Thanh Hóa - Điện Biên Phủ gần 600km, tuyến Lạng Sơn – Điện Biên Phủ dài 800km. Khi bắt đầu mở chiến dịch ta mới sửa những tuyến đường Tuần Giáo – Lai Châu, đoạn đường 41 Tuần Giáo – Điện Biên Phủ. Khi chuyển sang phương án “đánh chắc, tiến chắc” xuất hiện thêm yêu cầu mới là làm đường vận chuyển pháo bằng ô tô từ Km62 vào trận địa, dài gần bằng đoạn đường Tuần Giáo – Điện Biên Phủ, qua địa hình rừng núi nguy hiểm. Nhu cầu đảm bảo cho chiến dịch lớn nên các loại xe cơ giới phải ngày đêm vận chuyển cho kịp. Việc chạy xe thường xuyên làm cho mặt đường hư hỏng nặng hơn, lực lượng dân công lại gia cố lại đường.Trên các tuyến vận tải bộ từ Việt Bắc sang, Khu 3, khu 4 lên, ngoài ô tô là phương tiện vận tải chủ yếu còn có xe đạp thồ. Trên 20.000 xe đạp thồ từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An đến Thái Nguyên, Phú thọ… đã liên tục vận tải hàng thông suốt trong thời gian chuẩn bị và diễn ra chiến dịch. Để hoạt động hiệu quả, dân công sử dụng xe đạp thồ được tổ chức thành từng đoàn theo địa phương. Mỗi đoàn có nhiều trung đội, mỗi trung đội có từ 30 đến 40 người và xe, trong đó có 1 xe chở phụ tùng sửa chữa. Dưới trung đội là nhóm, mỗi nhóm từ 3 – 5 người, có 1 bộ nồi xoong nấu cơm và thường cùng đi với nhau để giúp nhau vượt qua suối, đèo. Đường xa, dốc cao, nhiều đoạn trơn lầy, vận tải bằng xe đạp thồ rất vất vả. Có người phải lấy quần áo quấn vào lốp xe[3]. Các đoàn dân công của huyện Thiệu Hóa, Hoằng Hóa, Đông Sơn (Thanh Hóa) vận tải bằng xe đạp thồ ở hỏa tuyến vượt mọi gian khổ, ác liệt, đưa hàng đến tận kho hậu cần của các đại đoàn. Bên cạnh dân công vận tải có phương tiện (xe đạp thồ, ngựa thồ, xe trâu, xe ngựa) là dân công không có phương tiện. Đây là lực lượng dân công đông nhất trên các tuyến đường bộ. Tiêu biểu cho lực lượng dân công khuân vác là Đại đội 15 dân công tỉnh Vĩnh Phúc, trong 5 chuyến vận chuyển đột xuất mang được 6.113kg hàng đến đích. Anh Nguyễn Văn Thành vác được 100kg, Hoàng Văn Duy vác được 97kg, chị Hà Thị Ngãi (Hòa Bình) gánh hàng liên tục 15 đêm không nghỉ. Những tấm gương tiêu biểu phục vụ ở các chân hàng là Chu Thị Mỹ, Nguyễn Thị Chất, Hoàn Văn Tiền… đều là lao động giỏi. Trong nhiệm vụ mở đường, bảo vệ đường nổi lên Đại đội Dân công Đông Anh đã tăng năng suất 3.334 ngày công bảo đảm tốt mọi kỹ thuật làm đường[4]. Chị Luyến, chiến sĩ chống lầy, mặc trời mưa vẫn lặn lội trong rừng chặt rông-đanh, động viên toàn đội kéo xe vượt qua những đoạn đường lầy giúp xe tăng chuyến… Các nữ dân công tài giỏi của các tỉnh Phú Thọ, Thanh Hóa, Lào Cai, Lai Châu đóng trên 11.600 bè nứa và sử dụng thuyền độc mộc đưa gạo về thị xã Lai Châu để từ đó ngựa thồ, xe đạp thồ chuyển về Điện Biên Phủ.Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, lực lượng dân công có đóng góp quan trọng: Hơn 261.653 dân công chủ yếu được huy động từ nhiều xã, huyện khác nhau trong các tỉnh ở Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu 4. Một số lớn dân công phục vụ suốt chiến dịch kéo dài 6 -7 tháng. Ngay tại hỏa tuyên, đồng bào Điện Biên Phủ đưa 3.000 người đi dân công với 64.670 ngày công phục vụ. Hậu phương tại chỗ, khu Tây Bắc huy động 31.818 dân công. Căn cứ địa Việt Bắc cung cấp cho mặt trận 36.519 dân công. Trong vùng địch hậu tỉnh Kiến An đóng góp 230.294 ngày công. Trong vùng tạm chiếm của các tỉnh Bắc Bộ, đồng bào chuyển ra vùng tự do 200.000 tấn thóc và 7,5 triệu ngày công đi dân công[5].Lực lượng dân công tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ đã góp phần bảo đảm giúp bộ đội ta thắng nhiều trận giòn giã. Ngoài nhiệm vụ vận chuyển, sửa đường, mở đường, khiêng cán hàng nghìn thương bệnh binh, lực lượng dân công còn là nguồn cổ vũ động viên bộ đội tham gia chiến dịch. Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu, ngày 7-5-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Đối phương bên cạnh việc thán phục đường lối kháng chiến và tinh thần chiến đấu kiên cường của quân và dân ta còn dành những nhận xét cho lực lượng dân công: “Than ôi! Máy bay của chúng ta đã thua đôi bồ dân công của Việt Minh”[6] và “Bất kể trường hợp nào thì tướng Giáp cũng đã thắng trong cuộc chiến tranh vận tải với những dân công…”./.Ths Lê Thị Thanh Huyền - Viện Lịch sử Quân sựThượng tá, ThS Lê Hoàng Việt, Học viện Kỹ thuật quân sự [1] Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản năm 1963, tập 6, tr.38.[2] Ban Khoa học Hậu cần, Công tác hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đông Xuân 1953 -1954, Tổng cục Hậu cần xuất bản, 1979, tr.20.[3] Dẫn theo: Bộ Quốc phòng – Viện Lịc sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), tập 6, Nxb QĐND, H, 2016, tr.221.[4] Dẫn theo: Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập 6, Nxb QĐND, H, 2016, tr.221.[5] Bộ Quốc phòng - Tỉnh ủy Điện Biên, Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, H, 2014, tr.311.[6] Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Tỉnh ủy Điện Biên, Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, H, 2014, tr.312.



