Đóng góp trong xây dựng Mặt trận Việt Minh và căn cứ địa cách mạng
Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới II bùng nổ, ở Đông Dương chính quyền thuộc địa thi hành chính sách cực kỳ phản động. Trước sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc của tình hình, Đảng Cộng sản Đông đã nhạy bén và nhanh chóng thay đổi phương thức hoạt động và lãnh đạo đề ra chủ trương: “dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc”. Mặc dù thực dân Pháp đàn áp dữ dội, nhưng phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân vẫn diễn ra sôi nổi, các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ nổ ra gây ảnh hưởng rộng lớn trong toàn quốc. Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Côn Minh (thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), chuẩn bị về nước để hiện thực hóa khát vọng ấp ủ từ trước: “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.
Trước chuyển biến của tình hình, chủ trương mới của Đảng trên đây đã tác động và tạo nên một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Võ Nguyên Giáp. Từ những kết quả kiểm nghiệm về lý luận và thực tiễn qua quá trình hoạt động, rèn luyện, phấn đấu học tập không biết mệt mỏi trong những năm 30 thế kỷ XX, đặc biệt là tiếp nhận đường lối, chủ trương mới của Đảng về đánh đổ đế quốc “vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng, độc lập”, Võ Nguyên Giáp đạt đến độ chín của tư duy về lập trường, quan điểm, về nhận thức lý luận, bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, sẵn sàng dấn thân vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó thể hiện rõ khi chiến sĩ yêu nước và cách mạng, nhà trí thức mác xít Võ Nguyên Giáp chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, bước vào hoạt động cách mạng chuyên nghiệp ở tuổi 29.
Nhận được sự quan tâm, tin tưởng của Đảng và nhiệm vụ do Xứ ủy Bắc Kỳ, trực tiếp là đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ phân công, tháng 5-1940, Võ Nguyên Giáp bí mật sang Trung Quốc hoạt động. Tháng 6-1940, tại Côn Minh (thủ phủ của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), Võ Nguyên Giáp lần đầu tiên được gặp và làm việc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được Người trực tiếp giao nhiệm vụ. Ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên, khả năng về quân sự của Võ Nguyên Giáp đã được con mắt tinh tường của lãnh tụ Hồ Chí Minh phát hiện và được Người cử đi học quân sự tại Trường Quân chính Diên An (Trường Đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc) dưới bí danh Dương Hoài Nam. Khi Võ Nguyên Giáp và các đồng chí đang trên hành trình đến Diên An thì Paris thất thủ, Chính phủ Pháp ký Hiệp ước đầu hàng phát xít Đức vào ngày 22-6-1940. Chấp hành ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí cùng đi đã hoãn việc đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhanh chóng di chuyển về thành phố Quế Lâm (Quảng Tây, Trung Quốc) để chuẩn bị về nước. Tháng 10-1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Quế Lâm. Tại đây, Người trù định: “lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Hay là Việt Nam độc lập đồng minh, có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ”. Võ Nguyên Giáp cũng các đồng chí hoạt động tại Quế Lâm đã tham gia góp ý kiến về đề xuất trên đây của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cuối năm 1940, Võ Nguyên Giáp cùng các cán bộ Việt Nam nhận chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Trịnh Tây (Tịnh Tây) (Quảng Tây) bắt liên lạc với hơn 40 cán bộ Cao Bằng đang tạm lánh, tổ chức đưa họ trở về Cao Bằng hoạt động gây dựng phong trào. Đầu tháng giêng năm 1941, tại hai địa điểm Nặm Quang và Ngàm Tảy, Võ Nguyên Giáp tham gia giúp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện cho số cán bộ người Cao Bằng trước khi rời Tịnh Tây, vượt biên giới về nước. Đây là lớp huấn luyện đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trương và trực tiếp tổ chức nhằm đào tạo cán bộ cho công tác thí điểm phong trào Việt Minh ở Cao Bằng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Phùng Chí Kiên... khẩn trương biên soạn chương trình huấn luyện và các bài giảng. Các bài giảng sau này được Tổng bộ Việt Minh bổ sung xuất bản thành sách Con đường giải phóng và dùng làm tài liệu huấn luyện cán bộ của Mặt trận Việt Minh.
Sau khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng nhiều đồng chí lãnh đạo trở về nước hoạt động (ngày 28-1-1941), Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí khác nhận nhiệm vụ tiếp tục ở lại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) và Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc) hoạt động. Đồng chí tham gia thành lập Việt Nam Dân tộc giải phóng đồng minh Hội (gọi tắt là Hội Giải phóng) vào tháng 4-1941, qua đó tạo thế hợp pháp đưa cán bộ trong nước sang học các trường quân sự ở Điền Đông, Quế Lâm, Nam Ninh... của chính quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa; tiến hành tuyên truyền và vận động cách mạng trong đa số người Việt Nam sinh sống và làm việc tại Trung Quốc; đấu tranh vạch mặt những người giả danh cách mạng, tổ chức đường giao thông đưa đón các đồng chí Trung ương đi họp Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp Trung ương (5-1941),...
Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5-1941) quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh (Việt Minh), nhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong các hội quần chúng mang tên “cứu quốc”, thực hiện đoàn kết toàn dân, đánh đuổi Pháp - Nhật, giành độc lập dân tộc. Ngày 25-10-1941, Mặt trận Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Quyết sách thành lập Mặt trận Việt Minh của Đảng dựa trên những luận điểm sáng tạo về đại đoàn kết của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, có công đóng góp, chuẩn bị cả về quan điểm, tư tưởng, về tổ chức cán bộ của những nhà hoạt động cách mạng ưu tú, trong đó có đồng chí Võ Nguyên Giáp.
Cuối năm 1941, thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp chuyển hẳn về hoạt động tại Cao Bằng, trực tiếp đóng góp vào việc thúc đẩy sự phát triển của Mặt trận Việt Minh và căn cứ địa cách mạng.
Từ đầu năm 1942, nhận nhiệm vụ do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao, Võ Nguyên Giáp tiến hành công tác vận động quần chúng, xây dựng các tổ chức cách mạng ở Cao Bằng. Võ Nguyên Giáp đã đến các bản làng ở Châu Hòa An, Nguyên Bình,... để “khai hội”, mở nhiều lớp huấn luyện quần chúng ngắn ngày, vận động nhân dân, tổ chức các hội “Cứu quốc”..., đưa chủ trương của Đảng, của Mặt trận đến với đồng bào các dân tộc.
Từ trong thực tiễn hoạt động, nhận thấy cần phải có hình thức tuyên truyền phù hợp, Võ Nguyên Giáp có sáng kiến: “Đem Chương trình Việt Minh soạn thành văn vần Việt Minh ngũ tự kinh” dịch ra tiếng Tày, tiếng Dao để phổ biến Chương trình Việt Minh một cách rộng khắp và nhanh chóng. Trong nhiều bản, làng, các chị phụ nữ và các em nhi đồng vừa cán bông, giã gạo, vừa hát Việt Minh ngũ tự kinh, “Nhiều bài hát lượn cách mạng bằng tiếng Thổ, tiếng Mán xuất hiện”. Từ thực tiễn công tác tuyên truyền, Võ Nguyên Giáp càng tự làm phong phú thêm kinh nghiệm về công tác giáo dục lý luận cách mạng cho quần chúng: “nếu nói lên được những nguyện vọng nóng bỏng của quần chúng, những điều liên hệ mật thiết đời sống của quần chúng thì quần chúng rất dễ tiếp thu, công tác vận động sẽ trở nên hấp dẫn đặc biệt, sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quần chúng tiến lên con đường đấu tranh (...) với những tâm hồn rất chất phác trong trẻo của đồng bào miền núi, khi cách mạng đã đem đến cho họ một lòng tin, thì không có sức nào lay chuyển được lòng tin đó”. Đồng chí cũng đúc kết kinh nghiệm: một điều cơ bản trong công tác vận động quần chúng là muốn đưa quần chúng, đưa phong trào lên, thì phải hiểu rõ trình độ quần chúng, có đi sát với trình độ quần chúng thì mới đưa quần chúng lên được. Không chỉ trực tiếp đến các bản làng thực hiện công tác vận động, tổ chức quần chúng, Võ Nguyên Giáp còn tham gia viết bài cho cơ quan lãnh đạo của Việt Minh Cao Bằng là báo Việt Nam độc lập (gọi tắt là Việt Lập). Theo sự phân công và dưới sự chỉ đạo, biên tập trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp tham gia viết bài viết cổ vũ động viên các giới tham gia phong trào Việt Minh.
Có thể nói, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp đã có đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng, để từ đó, lan tỏa khá nhanh chóng đi các hướng: hướng Đông sang Lạng Sơn, hướng Tây sang Hà Giang, hướng Nam xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên rồi lan rộng ra khắp Việt Bắc.
Để giúp các cấp bộ đảng xây dựng các đoàn thể Việt Minh, Võ Nguyên Giáp đã biên soạn tài liệu Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc trên cơ sở đúc rút những kinh nghiệm từ thực tiễn xây dựng và phát triển các đoàn thể Việt Minh ở Cao - Bắc - Lạng. Tài liệu được Mặt trận Việt Minh ở Việt Bắc đã xuất bản vào tháng 2-1944. Cuốn tài liệu đã cung cấp một cách toàn diện những kinh nghiệm phong phú của phong trào Việt Minh ở Việt Bắc trên tất cả các mặt hoạt động, công tác. Với những kinh nghiệm quý báu được đúc kết trong cuốn Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc, Võ Nguyên Giáp đã cống hiến những bài học thiết thực về xây dựng tổ chức phong trào Việt Minh trên toàn quốc.
Xây dựng lực lượng chính trị, các đoàn thể chính trị là nội dung đầu tiên và quan trọng nhất trong xây dựng căn cứ địa ở Việt Nam. Do đó, đóng góp trong xây dựng trong Mặt trận Việt Minh cũng chính là đóng góp của Võ Nguyên Giáp trong xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao Bằng, rộng ra là căn cứ địa Việt Bắc. Đặc biệt, Võ Nguyên Giáp có đóng góp quan trọng trong mở rộng kết nối căn cứ địa Cao Bằng với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, tạo nên thế liên hoàn của các căn cứ cách mạng, tạo điều kiện để sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được thông suốt.
Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, trực tiếp là chủ trương của Hội nghị giữa ban lãnh đạo Cao Bằng và các đồng chí lãnh đạo Cứu quốc quân diễn ra tại Lũng Hoài, Cao Bằng (2-1943), đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp phụ trách hướng xung phong Nam tiến là hướng quan trọng nhất trong 3 phướng phát triển của căn cứ Cao Bằng, có nhiệm vụ nối liền hai khu căn cứ, để phát triển xuống trung du, đồng bằng để kết hợp với phong trào toàn quốc, giữ vững liên lạc với Thường vụ Trung ương đóng dưới xuôi.
Dưới sự chỉ huy sâu sát và rất khẩn trương của Võ Nguyên Giáp, từ mùa Hè 1943, 19 đội xung phong Nam tiến với hơn 100 cán bộ, đội viên, phần lớn là con em của tỉnh Cao Bằng đã dùng phương pháp vũ trang tuyên truyền, từ Nguyên Bình mở rộng hoạt động xuống Bắc Kạn. Các đội Nam tiến vừa “mở đường” vừa tranh thủ mở lớp huấn luyện cấp tốc cho các đội viên, đồng thời xây dựng và củng cố hành lang chính trị trong quần chúng. Qua công tác, các đội Nam tiến đã phát hiện, bồi dưỡng nhiều quần chúng ưu tú kết nạp Đảng. Đặc biệt, khi phong trào phát triển về Bắc Kạn và Lạng Sơn đặt ra vấn đề cần có kinh phí, cần có đội ngũ cán bộ địa phương để củng cố và giữ vững phong trào tại những nơi mà đoàn Nam tiến đã đi qua, trong khi, Bắc Kạn chưa có Tỉnh ủy lãnh đạo phong trào cách mạng, Tỉnh ủy Cao Bằng không đủ tư cách để giải quyết... Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cao Bằng cùng các đồng chí cán bộ Trung ương quyết định phải hình thành một cơ quan lãnh đạo Đảng để phù hợp với sự phát triển của “con đường quần chúng” Nam tiến. Trên cơ sở đó, Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng thành lập. Đồng chí Lê Quảng Ba viết: “ Lý do ra đời của Liên Tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng là do thực tế địa phương đòi hỏi mà tác động trực tiếp là công tác Nam tiến”. Tháng 11-1943, đội Nam tiến do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã gặp đội Bắc tiến do đồng chí Chu Văn Tấn phụ trách ở xã Nghĩa Tá (Chợ Đồn, Bắc Kạn). Hai căn cứ cách mạng được nối thông đã hiện thực hóa tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi chọn Cao Bằng làm căn cứ địa của cách mạng cả nước, tạo điều kiện cho sự phát triển của phong trào cách mạng ở Việt Bắc, đồng thời là biểu hiện sự cố gắng nỗ lực của các đội Nam tiến mà công đầu thuộc về đóng góp to lớn của Võ Nguyên Giáp.
Tháng 4-1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp tham dự Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Hòa - Bắc Giang (thuộc ATK2) do Tổng Bí thư Trường-Chinh chủ trì. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng các đồng chí tham dự quyết định phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và thống nhất các lực lượng vũ trang sẵn có thành Việt Nam giải phóng quân, xây dựng 7 chiến khu chống Nhật trong cả nước: chiến khu Lê Lợi, Quang Trung, Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo ở Bắc Kỳ; Trưng Trắc, Phan Đình Phùng ở Trung Kỳ, Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ.
Trên cơ sở sự phát triển của căn cứ địa cách mạng, đầu tháng 5-1945, tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang), đồng chí Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập một khu căn cứ cách mạng rộng lớn lấy tên là Khu giải phóng bao gồm hầu hết các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang và một số vùng thuộc các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh giao cho dự thảo nghị quyết về việc thành lập Khu giải phóng. Ngày 4-6-1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị tuyên bố thành lập Khu giải phóng. Khu giải phóng đặt dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng do Hồ Chí Minh đứng đầu, Võ Nguyên Giáp làm Ủy viên Thường trực, đặc trách vấn đề quân sự.
Để xây dựng Khu giải phóng vững chắc về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng Ủy ban Chỉ huy lâm thời đã ra sức huy động mọi lực lượng trong khu từng bước thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Khu giải phóng được thành lập đã tạo điều kiện và thúc đẩy phong trào cách mạng trên cả nước, trước hết là ở Bắc Kỳ, tiến lên mạnh mẽ hơn nữa. Khu giải phóng ra đời đã tạo thêm thanh thế cho Việt Minh trước nhân dân trong nước cũng như trước lực lượng dân chủ thế giới.
Sự ra đời của Khu giải phóng thể hiện sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, của Mặt trận Việt Minh và của căn cứ địa cách mạng. Đó cũng là thành quả to lớn của những nỗ lực và đóng góp của các đồng chí lãnh đạo Đảng, của các chiến sĩ và quần chúng cách mạng, trong đó có đóng góp quan trọng của đồng chí Võ Nguyên Giáp.



