Đông Hồ và một hồn thơ yêu nước
Đông Hồ tên thật là Lâm Tấn Phác, tự Trác Chi, hiệu Đông Hồ, Hòa Bích và nhiều bút danh khác, sinh năm 1906 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên. Cha mẹ mất sớm, Đông Hồ được người bác nuôi dưỡng, dạy dỗ nhưng cũng sớm phải chịu cảnh thất học. Tuy nhiên, bằng ý chí, nghị lực, ông tự học tích lũy kiến văn để trở thành nhà thơ, nhà báo, dịch giả, nhà văn hóa nổi tiếng.
Một nhà thơ Mới...
Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh và Hoài Chân tuyển chọn 4 bài thơ của Đông Hồ: “Cô gái xuân”, “Mua áo”, “Tuổi xuân”, “Bốn cái hôn” và dành những lời đánh giá cao: “Lạ nhất là bài “Tuổi xuân”, người ta có thể tưởng nó đã ở đâu lạc tới. Đến khi tác giả đưa in lại vào tập “Cô gái xuân”, ta mới thấy nó tìm được hoàn cảnh tự nhiên của nó. Bởi vì trong bài “Tuổi xuân” có cái bồng bột, cái trịnh trọng trước tình yêu mà cả thế hệ trước đây không từng biết...”. Tức rất mới.
Nhưng giới nghiên cứu lại đánh giá cao cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật của bài “Nhớ vợ hiền” (còn gọi là lệ ký, Linh Phượng ký, lệ ký Linh Phượng) viết năm 1928. Sở dĩ có nhiều cách gọi là do bài thơ nằm trong bài ký Linh Phượng-tập lệ ký của Lâm Trác Chi in trên Tạp chí Nam Phong số 128 (tháng 4-1928).
Nội dung bài ký viết về kỷ niệm, nỗi đau của tác giả nhớ về người vợ tên Linh Phượng mất khi tuổi còn trẻ. Chịu ảnh hưởng truyền thống với tiếng thơ buồn của Nguyễn Hữu Chỉnh, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, có thể là cả “Giọt lệ thu” của Tương Phố, thi phẩm “Nhớ vợ hiền” vượt lên để thành “thơ mới”.Riêng bài “Bốn cái hôn” được báo chí đương thời khen ngợi với những câu thơ: “Một hơi thở mát qua, dịu dàng/ Như cơn gió biển, thoáng bay ngang/ Rồi luồng điện ấm chạm trên má/ Ân ái môi anh kề nhẹ nhàng”. Miêu tả tinh tế, nhẹ nhàng “bốn cái hôn” của mẹ, cha, cô giáo, người yêu, riêng với đoạn tả “cái hôn” với người yêu này, bài thơ vẫn mới so với hôm nay.
Chỉ cần một tập Thơ Đông Hồ (xuất bản năm 1932) đủ đưa tác giả trở thành một thi nhân, để hậu thế coi ông là một trong những người đặt nền móng của ngôi nhà thơ mới. Nền thơ Việt Nam hiện đại đã ghi công những bậc tiền bối như Đông Hồ-nơi miền thượng nguồn với những cách tân mới mẻ tạo ra dòng phù sa văn hóa rất đáng quý.
Say đắm với quốc văn
Tác giả của “Thi nhân Việt Nam” ca ngợi Đông Hồ: “Nhưng yêu quốc văn mà đến như Đông Hồ kể cũng ít”. Ngoài ngôn ngữ, yêu “quốc văn” còn thể hiện ở sự trân quý, yêu thương vẻ đẹp phong cảnh Việt. Mà “Đông Hồ là người thứ nhất đưa vào thi ca Việt Nam cái vị bát ngát của tình yêu dưới trăng thanh, trong tiếng sóng” nên càng đáng trân trọng.
Ngôn ngữ luôn là mã văn hóa quan trọng nhất, bởi không chỉ là phương tiện của tư duy, thể hiện tâm hồn, tính cách con người mà còn chứa trong đó hồn cốt dân tộc. Thời Pháp thuộc, trong trường học do người Pháp mở, tiếng Việt là ngoại ngữ. Đó là một cách xâm lăng văn hóa thâm độc. Trước năm 1926, Đông Hồ từng dạy học ở một trường như thế, mở tại Hà Tiên.
Với tấm lòng yêu nước, Đông Hồ phản đối bằng cách tăng giờ học tiếng Việt. Thanh tra trường cảnh cáo. Biết không thể thay đổi, Đông Hồ từ chức giảng dạy. Cuối tháng 10-1926, ông mở Trí Đức học xá ngay tại nhà, chương trình dạy toàn bằng tiếng Việt cho bất kỳ ai muốn học. Nhìn từ hôm nay càng thấy rõ, đó không chỉ là sự dũng cảm mà còn là tầm nhìn xa, là sâu đậm một tình yêu văn hóa dân tộc.Tình yêu đáp lại tình yêu. Học trò từ Đồng Tháp, Mỹ Tho, Biên Hòa, Sài Gòn... đến xin học rất đông. Đúng với những câu thơ tự Đông Hồ viết: “Vườn Trí Đức thành phương ngõ rộng/ Hạt quốc văn gieo giống tinh hoa/ Trải bao gió lộng sương pha/ Tốt tươi hồng hạnh, rườm rà quế lan”.
Một tấm lòng, một tài năng như vậy, Đông Hồ phải thể hiện trên báo chí như là việc tất nhiên. Ông cộng tác, viết nhiều cho Tạp chí Nam Phong. Trong “Nhà văn hiện đại”, nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan khen ngợi: “Gần đây, số thi nhân ngày một ít, nên khi nói đến thơ Nam Kỳ, ai cũng phải nhớ ngay đến thi sĩ Đông Hồ, người đã viết mấy bài có giá trị trong Tạp chí Nam Phong”.
Sau năm 1934, ông lên Sài Gòn, cùng một số bạn bè xuất bản tờ báo “Sống”, ra số đầu ngày 22-1-1935 không ngoài mục đích cổ động, tuyên truyền cho việc dạy và học chữ Quốc ngữ. Khâm phục, kính trọng một hành động văn hóa ý nghĩa, từ ngoài Bắc, Tản Đà làm thơ tặng: “Ngàn năm hoa thảo màu xuân mới/ Nửa bức sơn hà nét mực tươi/ Sống ở trên đời cho đáng sống/ Xin đừng gượng gạo sống như ai”. Từ khóa thẩm mỹ của những câu thơ ấy chính là từ “sống”-tên tờ báo, rất thú vị. Thật tiếc, “Sống” chỉ ra được vài chục số rồi tự ngừng vì không thể cạnh tranh nổi với các báo khác. Đông Hồ về Hà Tiên, chuyển hướng tập trung khảo cứu văn học miền Nam.
Một tâm huyết lớn cùng kiến văn sâu rộng, Đông Hồ được mời tham gia giảng dạy ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn cũng là dễ hiểu. Ông lại đem hết tài năng để trao truyền tri thức cho sinh viên. Câu chuyện ông gục xuống rồi ra đi mãi mãi khi đang giảng bình “Trưng Nữ Vương”-một bài thơ yêu nước của nữ sĩ Ngân Giang, được nhiều người kể lại.
Nhưng được nhiều người tin, bởi họ tin vào tình yêu nước, yêu nền quốc văn Việt Nam như Đông Hồ, thì có những chuyện chết trong tình yêu, chết vì tâm huyết, cũng không lạ. Cũng vì thế chăng mà nhiều sách khi nói về tiểu sử Đông Hồ đã khẳng định năm 1945 ông tham gia kháng chiến, trong khi chưa có cứ liệu chắc chắn nào nói rõ về điều ấy. Vì người ta cũng tin, một con người như Đông Hồ dứt khoát phải thế!
Nhưng gần như chắc chắn rằng, với tình yêu nước, tình yêu quốc văn mạnh mẽ, Đông Hồ là người đầu tiên đặt nền móng cho thư pháp tiếng Việt. Tình yêu thôi thúc ông tiếp tục “sống” và cống hiến: Sáng lập Nhà xuất bản Bốn Phương và nhà sách Yiễm Yiễm thư trang; xuất bản tập san Nhân loại. Từ sau năm 1964, Đông Hồ về sống tại Quỳnh Lâm thư thất-ngôi nhà nhỏ ngoại ô Sài Gòn. Ông tiếp tục viết văn, làm thơ, nghiên cứu lịch sử đăng trên nhiều báo, tạp chí.


