Dòng nước đầu nguồn của bà Lầu Thị Chở
Bà Lầu Thị Chở sinh năm 1942, người thôn Ky Quan San, từng sống ở khu vực giáp ranh Mường Hum – Dền Sáng trước khi chia xã năm 1955.
Bà kể:
“Ngày xưa đất rộng lắm, bản tôi đi sang Dền Thàng hay Sàng Ma Sáo cũng chẳng có ranh gì. Chỉ cần nhìn hướng núi, nghe tiếng suối là biết đường”.
Nhà bà Chở ở gần khe nước đầu nguồn. Những năm 1953 – 1954, khi giặc Pháp còn càn quét vùng châu Thủy Vĩ cũ, bà con thường phải chạy vào rừng tránh quân địch. Mỗi lần chạy, chỉ kịp mang theo gùi và ít đồ ăn.
Nhưng điều bà nhớ nhất không phải sợ hãi, mà là nước suối.
Trong rừng, ai đói thì cố chịu, nhưng ai khát thì bà Chở đều cố dẫn đến khe nước nhà mình. Bà bảo:
“Nước đầu nguồn không bao giờ cạn. Người uống nước ấy, tôi coi như người nhà”.
Có một lần, nhóm cán bộ trẻ từ huyện vượt núi sang Sàng Ma Sáo bị lạc đường. Trời mưa, sạt đất, lương khô bị ướt. Họ gặp bà giữa lối mòn. Bà thấy người lạ nhưng nhìn cái cách họ đeo túi vải, mang giấy tờ liền đoán là cán bộ.
Bà chỉ nói một câu:
“Đi theo tôi. Đói để sau, uống nước trước”.
Rồi bà dẫn đoàn đến gốc cây cổ thụ có mạch nước chảy qua. Nước trong đến mức thấy cả những viên đá nhỏ dưới đáy. Cán bộ cúi xuống uống, nét mặt ai cũng sáng lên như được tiếp sức.
Bà mới cười, mộc mạc:
“Nước núi mình đấy. Người tốt thì núi thương, nước không bao giờ phụ”.
Sau này, khi xã chia tách thành tám xã năm 1955, gia đình bà thuộc về xã Mường Hum mới. Con cháu hỏi:
“Bà ở chỗ cũ mà xã lại đổi, bà có buồn không?”
Bà chỉ lắc đầu:
“Đất chia để dễ làm việc. Nhưng suối vẫn chảy từ một núi. Con người cũng vậy – sống thật thì gặp nhau chỗ nào cũng là người một nhà”.
Giờ tuổi cao, bà vẫn mỗi sáng ra đầu nguồn rửa mặt, tay vốc nước lên nói nhỏ:
“Cả đời tôi nhờ nước. Giúp người khi khát, cũng như giữ lửa cho bản”.


