“Đột phá Dốc Nhứt – Trận đánh đặc công mẫu mực”
Đoạn kể tái hiện quá trình trinh sát, chuẩn bị và tiến công đồn Dốc Nhứt – một cứ điểm kiên cố của địch tại đèo Hải Vân. Với nghệ thuật đặc công bí mật, táo bạo và bất ngờ, lực lượng ta đã luồn sâu, đánh nhanh, tiêu diệt toàn bộ đồn địch chỉ trong thời gian ngắn, khẳng định hiệu quả của lối đánh đặc công và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội ta.
Vài ngày sau đó, chúng tôi chuyển sang đợt ba của giai đoạn thực tập - chiến đấu với tinh thần biến đau thương thành sức mạnh. Địa bàn thực tập đợt này tiến sâu hơn, nhằm vào một số đồn bót ở bắc - tây bắc Đà Nẵng thuộc huyện Hòa Vang. Đoàn học sinh Khánh Hòa được giao nhiệm vụ đánh đồn Dốc Nhứt (chân đèo Hải Vân).
Dốc Nhứt là cứ điểm kiên cố, có hệ thống công sự boong-ke hoàn chỉnh1, địa thế hiểm trở, nằm chênh vênh kề mép đường đèo: phía tây là dãy ta-luy được vạt nhẵn gần như vuông góc với mặt đường; phía đông bờ vực sâu đến hơn hai mươi mét, dưới chân là vịnh Đà Nẵng suốt ngày đêm tung bọt nước. Lại có một hệ thống tháp canh bao quanh bảo vệ, tiếp cận đã khó, tiến công càng khó hơn. Nhất là sau khi một sô đồn bót vừa bị đoàn học sinh đặc công san bằng ở nam, bắc huyện Điện Bàn thì ở Dốc Nhứt địch càng tăng cường phòng thủ, canh gác cẩn mật suốt ngày đêm. Ở đây thường xuyên có một đại đội Com-măng-đô tăng cường làm nhiệm vụ khống chế gần như toàn bộ phần đường phía nam đèo Hải Vân; bảo vệ vành ngoài của căn cứ Đà Nẵng, trực tiếp là kho xăng Liên Chiểu.
Nhưng chúng tôi vẫn quyết định chọn Dốc Nhứt làm mục tiêu số một của đợt ba thực tập - chiến đấu, vì từ cái mạnh bề ngoài như kể trên, có một cái yếu cần khai thác, đó là thằng địch ở đây rất chủ quan đến ngạo mạn. Ỷ vào địa thế và công sự, chúng thường ngày rêu rao thách đố Việt Minh nếu liều mạng mò vào đây thì chỉ có phơi xác (!). Sơ hở của địch bao giờ cũng là một điều kiện thuận lợi khách quan để ta lựa chọn làm mục tiêu tiến công. Nói cách khác tìm và phát hiện những sơ hở của địch, cần thiết còn tạo cho địch mắc bẫy sơ hở là một trong những nghệ thuật tác chiến của bộ đội Đặc công.
Trận thực tập - chiến đấu này tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy, vì anh Liêm không còn nữa, đồng chí Huỳnh Công Cước (nay là đại tá) là chỉ huy phó. Hận Dương Hỏa và nỗi đau mất anh Hai Liêm đã làm thành sức mạnh trong tất cả chúng tôi - những người được giao nhiệm vụ chiến đấu đợt này. Đây cũng là trận thí nghiệm đầu tiên đánh vào đồn có công sự boong-ke. Vì thế nên từ trinh sát nắm địch đến kế hoạch tiềm nhập tiến công đã được tiến hành một cách tỉ mỉ, nghiêm túc và có kiểm tra đôn đốc sát sao trong quá trình chuẩn bị. Một điều rất hệ trọng khác cũng luôn luôn được nhắc đến trong giai đoạn chuẩn bị là phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định giữ bí mật, gây cho địch càng chủ quan bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Triệt để giữ bí mật là tạo được yếu tố bất ngờ đến cùng với địch, giành được thế chủ động cũng đến cùng đối với ta. Thành công của bất cứ trận đánh nào của Đặc công không thể thiếu vắng nguyên nhân này.
Điều tra nghiên cứu về địch - chúng tôi thường gọi tắt là điều nghiên - là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định thành bại của trận đánh. Có được nhận thức này là sau thất bại ở Dương Hỏa. Chúng tôi quyết định tiến hành việc này trong hai đêm và người thực hiện là tôi và đồng chí Huỳnh Công Cước. Tức là chỉ huy trưởng và chỉ huy phó phải trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra nắm địch, có như thế mới xây dựng được kế hoạch tiến công phù họp.
Đêm thứ nhất, tiến hành trót lọt. Chúng tôi tìm được đường vận động, xác định được vị trí chuẩn bị và quan sát từ ngoài vào đồn, xác định lại các hướng, số lượng công sự, hầm, ụ súng. Công việc chưa gay cấn lắm nhưng rất vất vả, phải mất đúng một đêm. Thời gian cuốn hút nhiều vào việc xóa dấu vết, để ngày sau địch có mò sục sạo quanh đồn cũng không tìm thấy dấu vết khả nghi.
Đêm thứ hai bắt đầu. Trăng thượng tuần mờ đục rất thuận lợi cho công việc điều nghiên, nhưng cũng là một đêm căng thẳng, phải vào đồn, sờ nắn đo đếm các thứ cần thiết, phục vụ cho xây dựng quyết tâm trận đánh đêm mai.
Giờ tiềm nhập điều nghiên bắt đầu. Lúc ấy vào mười giờ. Không gian yên tĩnh, chỉ có nghe tiếng sóng biển đập ầm ầm vào bờ vịnh, cái âm thanh ấy giờ này quả có tác dụng đối với chúng tôi, nếu vì một sơ suất nào đó, gây nên tiếng động nhỏ thì đã có cái âm thanh của sóng biển kia đỡ đòn, xóa đi.
Tụt xuống mép đường đèo, chúng tôi vận động nhanh sang đường đến một mô đá to nằm lại nghe ngóng động tĩnh, quan sát địa thế và định hướng tiềm nhập. Phía trước mặt nhấp nhô những mô đá lan vào đến tận nội đồn. Thật là một thiên nhiên đẹp và cũng tạo thuận lợi cho chúng tôi làm nhiệm vụ đêm nay. Đang vân động thuận lợi thì bắt gặp phía trước mặt một vật bất động thoạt nhìn tưởng là đá nhưng dị dạng, chưa khẳng định là đá hay người. Tôi và Cước dừng lại, lùi vào một mô đá khác to, kín hơn, tiếp tục thay nhau quan sát. Để không bỏ sót dù chỉ một giây, để quan sát mười lăm phút. Cước theo dõi trước. Hết mười lăm phút, vật trước mắt vẫn gần như bất động. Đến lần tôi, chỉ chưa đầy ba phút sau khi thay phiên cho Cước, tình hình đã khác. Vật trước mặt động đậy, tôi theo dõi một cách hồi hộp, hai mắt như dán vào vật đó. Tôi đập vào vai Cước rồi chỉ về phía trước mặt. Cước nhin lên gật đầu: Người, đúng người rồi! Theo dõi tiếp, chúng tôi nhận ra đó là tên lính gác đang ngồi ngủ gật, mặt hướng ra phía biển. Tôi và Cước trao đổi bằng ký hiệu, cả hai thống nhất là lúc y đang mơ màng nửa tỉnh nửa mê, cứ tiếp tục tiến, lặng lẽ vượt phía sau y để vào sâu trong đồn địch. Vượt được cửa ải lính gác là coi như thắng lợi. Càng vào sâu, địch càng chủ quan, tất cả đều ngủ, nghe rõ cả tiếng ngáy từ trong nhà vọng ra. Chúng tôi lần lượt xem xét từng mục tiêu: Có hai lô cốt ngầm boong-ke quay về hướng bắc và tây bắc, một ở giữa có lỗ châu mai chĩa ra bốn hướng, trên nóc đặt đại liên. Hình như địch vẫn đang tiếp tục xây thêm thì phải, vi ở cạnh đường từ cổng chính vào còn nhiều vật ỉiệu sắt thép, xi mãng chất đống ngổn ngang. Tôi thầm nghĩ: Ta quyết định đánh lúc này là đúng thời cơ, để chúng xây xong thì vấn đề sẽ phức tạp hơn.
Chúng tôi ra khỏi đồn vào khoảng mười hai giờ đêm. Trăng thượng tuần đã lặn, ánh sáng điện từ Đà Nẵng hắt lên vàng vọt và mờ ảo, sóng biển càng gầm to. Chúng tôi băng qua cánh rừng phía tây đèo Hải Vân để tới căn cứ thì cũng vừa sáng. Anh em ở nhà hồi hộp dõi theo, không thấy động tĩnh gì từ hướng chúng tôi đến, đã mừng trước bằng một việc nấu nồi chè chờ chúng tôi về “mở tiệc” khoản đãi. Vừa thấy bóng, tất cả đã ùa ra ôm ghì lấy chúng tôi. Sau hai đêm căng thẳng, sống những giây phút ớn lạnh, cô đơn khi đi làm nhiệm vụ ở nội đồn, càng thấy quí cái tình cảm của đồng đội, của tập thể, nỗi thấp thỏm lo lắng đến vui mừng khôn xiết như thế này; cái mệt trong chúng tôi biến đi đâu thật nhanh. Lúc trên đường về, chúng tôi dự định sẽ ngủ một hơi lấy sức, trưa dậy bàn kế hoạch hành động đêm nay còn kịp chán, vậy mà giờ đây thấy tỉnh táo đầu óc thanh thản như bình thường. Cũng chẳng nghỉ đến xả hơi nữa, chúng tôi bàn ngay vào việc. Hai mươi lăm con người đã tề tựu đầy đủ gồm đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa và tiểu đội trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam cử sang bổ sung, vừa là học tập thực tế vừa tham gia chiến đấu luôn.
Ngay đêm thứ nhất đi trinh sát trở về, tôi đã nêu vấn đề ngụy trang khi tiềm nhập vào nội đồn là rất quan trọng, cần phải khẩn trương chuẩn bị. Cả ngày hôm ấy, anh em ở nhà triển khai thực hiện khá tốt. Tất cả phân tán vào các nhà dân, có đồng chí đi xa mười cây số để xin cạo nhọ nồi với một lượng đủ để chà kín toàn thân. Ai cũng cắt tóc ngắn theo quy định. Chỉ cần nhìn mấy chục cái đầu trọc ngồi lố nhố phía trước mặt cũng đủ thấy tinh thần quyết tâm chiến đấu của anh em là thế nào rồi. Tất cả đều tỏ vẻ lạc quan, tin tưởng và sẵn sàng đợi lệnh. Điều đó đã khích lệ động viên tôi rất nhiều. Người chỉ huy trong giờ phút chuẩn bị bước vào một trận mà được sống trong không khí như thế này quả là hạnh phúc. Đúng là đồn địch mà chúng tôi có nhiệm vụ xóa sổ nó trong đêm nay tuy cứng nhưng tôi tin là nhất định thắng vì đã điều nghiên kỹ, vì tinh thần lạc quan, kiên quyết và sẵn sàng của anh em.
Tôi bắt đầu trình bày kê hoạch trận đánh với anh em sau khi đã trao đổi thống nhất với anh Huỳnh Công Cước. Chứng tôi trao đổi và nhất trí nhanh chóng. Mọi chi tiết cụ thể đều được xác định. Hai mươi lăm người sẽ chia thành hai tổ. Tổ Một do tôi phụ trách theo hướng tây tiến vào; đây là hướng chính vừa có điều kiện tiềm nhập và khi vào được nội đồn là nhanh chóng đánh vào lô cốt mẹ, bắt khẩu đại liên đặt trên cao phải câm họng, tạo thuận lợi cho toàn đơn vị đánh các mục tiêu khác. Tổ Hai do anh Cước chỉ huy vào theo hướng đông. Vì đánh công sự xây bằng ximăng cốt thép nên vũ khí của chúng tôi chủ yếu là bộc phá gói sẵn với khối lượng từ hai đến ba cân.
Ngay chập choạng tối hôm đó, chúng tôi xuất phát. Toàn đơn vị theo đội hình hàng dọc, cắt rừng phía tây tiến vào vị trí tập kết cuối cùng. Tại đây toàn đơn vị kiểm tra lần cuối công tác chuẩn bị vũ khí như đóng gói bộc phá, dây cháy chậm, ngòi nổ; kiểm tra nhắc lại lần nữa ám, ký hiệu dùng trong trận đánh. Đến cách đồn hai cây số, toàn đơn vị dừng lại thực hiện ngụy trang. Bắt đầu từ đây mọi người cởi hết quần áo (có bộ phận đi theo cất giữ), chỉ mặc quần lót, nhọ nồi hòa nước bôi chà khắp người. Trăng lên cao, ừời sáng rõ, nhưng nhìn ai cũng chỉ thấy là một cái bóng đen. Gió từ biển thổi vào càng mạnh, cây rừng lao xao, mang lại cảm giác lạnh giá. Nhưng nghĩ đến nghĩa vụ, trách nhiệm của các chiến sĩ đặc công, đến ý nghĩa của trận đánh thử nghiệm, lại thấy cái lạnh đi qua thật nhanh, tất cả đã sẵn sàng tiến quân. Từ đấy, chúng tôi bước những bước thật nhẹ mà nhanh, hành động thật nhiều nhưng không nói, tất cả đều theo chỉ dẫn của ám hiệu với một ý thức thận trọng và nghiêm túc, không được để xảy ra bất cứ một sơ xuất nào, dù là nhỏ nhẹ.
Mười một giờ. Súng từ phía đồn địch bắn ra như vãi đạn, nghe tưởng như chúng đã phát hiện được đối phương đang triển khai đội hình đánh chúng. Có gì để lộ khi đi trinh sát đêm qua, đêm nay địch đề phòng? Tôi hơi phân vân, nhưng cũng rất bình tĩnh, tự tin, đầu óc bắt đầu nghĩ ra bao nhiêu cách đối phó; nếu lộ thật thì kế hoạch phải thay đổi, chuyển tổ anh Cước sang hoạt động nghi binh kéo sự chú ý của địch ra hướng đông - đông nam; còn tổ của tôi tranh thủ tiềm nhập, vào đến nội đồn tách thành hai nhóm, đảm nhiệm cả những mục tiêu trước phân cho tổ anh Cước. Năm phút, rồi mười phút trôi qua, rất nặng nề, chậm chạp. Địch đã thôi bắn. Đêm yên tĩnh trở lại, tiếng sóng biển đập vào bờ vịnh Đà Nẵng cứ ầm ầm liên tục vì giờ này nước đang lên.
Địch bắn cầm canh. Tôi chợt nghĩ như thế và trao đổi luôn với anh em: ta cứ tiếp cận, nếu vào đến mép rào quả thấy địch có triệu chứng đề phòng thì ta sẽ rút êm, xóa dấu vết, về lại khu vực trú quân bàn cách làm ăn khác. Nếu đồn địch vẫn yên tĩnh, thì cứ theo kế hoạch hoạch đã giao, khẩn trương cắt rào, gỡ mìn, trườn nhanh vào đánh phá các mục tiêu đã phân công.
Mười hai giờ đúng, hai mươi lăm chiến sĩ mình trần, toàn thân đen mốc, đầu đội mũ cỏ đã vượt qua cánh cửa mở vào nội đồn, đến sát mục tiêu được phân công.
Từ sát chân lô cốt mẹ, ba phát súng làm hiệu lệnh tiến công bay vút lên không trung. Không một tiếng người hò reo, không tiếng chân nguời vận động, vậy mà tiếng nổ của các loại bộc phá nghe đanh, liên hồi, cứ như tiếng pháo bắn cấp tập phá hoại các mục tiêu công sự. Địch không kịp trở tay, phần lớn chết trong lúc chúng đang ngủ bởi sức ép của các loại bộc phá. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, không một tên địch nào sòng sót, ta thu toàn bộ vũ khí Tôi vừa vác khẩu đại liên 12,7 ly hai nòng vừa chỉ huy anh em rút, cứ thế chúng tôi băng qua các cánh rừng cây cối rậm rạp, vượt qua các dốc một cách nhẹ nhõm. Khẩu súng chiến lợi phẩm mang về được đặt ở chính giữa khu vực trú quân, ai cũng đến nhìn sờ mó và khen súng còn mới, nước thép còn xanh. Nhiều người ghé vai vào vác thử để đọ sức khỏe với tôi. Nhưng chỉ mới đặt súng lên vai cũng thấy phải cố sức, không kể đến vừa vác vừa chạy từ đồn địch về đây đâu có gần!
Cả ngày hôm đó toàn đơn vị ăn mừng thắng lợi. Tiếng là ăn mừng nhưng cũng chỉ có củ khoai, củ mì và bắp ngô, chỉ khác là ăn no hơn các bữa thường. Chiều đến chúng tôi được tin cơ sở của ta từ Đà Nẵng cho biết, ngay sáng hôm đó viện binh địch ở căn cứ Đà Nẵng dò dẫm kéo ra, vừa đi vừa bắn phá dọn đường. Khi kéo đến nơi, đứng trước cảnh chết chóc và đổ nát của một đồn binh được xếp vào loại kiên cố đáng tin cậy thì tất cả quan lính đều hoang mang, không hiểu Việt Minh đánh bằng cách gì mà khủng khiếp như thế này (?!)



