Du kích - lực lượng xung kích trong phong trào Đồng khởi năm 1960
Ngày 1/1/1960, tại Mỏ Cày, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó Bí thư Tỉnh ủy truyền đạt Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 và chủ trương của Khu ủy Khu 8: phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa. Ngày 17/1/1960, tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh huyện Mỏ Cày, các tổ, đội du kích kết hợp với cơ sở nội tuyến cải trang, bằng phương pháp “ôm hè, bắt hè” diệt tên đội Tý, Chỉ huy Tổng đoàn dân vệ tổng Minh Đạt làm hiệu lệnh mở đầu phong trào Đồng khởi. Cùng lúc cơ sở ta ở đồn Vàm Nước Trong (Định Thủy) vận động số lính tề ấp, dân vệ ra hàng. Tiếp đó, lực lượng du kích và quần chúng nổi dậy chiếm trụ sở tổng đoàn dân vệ, thu toàn bộ vũ khí. Phát huy thắng lợi của Định Thủy, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, phong trào khởi nghĩa nhanh chóng lan rộng toàn tỉnh, trong đó có 47 xã của các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú, nhân dân nhất tề nổi dậy diệt ác, chiếm đồn, phá tan bộ máy kìm kẹp. Trong tuần lễ Đồng khởi, 37 đồn bót bị bức rút, bức hàng; diệt và bắt trên 300 tên chỉ điểm, tề, dân vệ ác ôn; giải phóng hoàn toàn 22 xã, thu nhiều vũ khí. Để đối phó với phong trào Đồng khởi và tìm diệt lực lượng vũ trang và cơ quan đầu não của tỉnh, ngày 25/3/1960, địch huy động gần 10.000 quân hỗn hợp bao vây 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh.
Nhằm bảo toàn lực lượng, tránh thương vong cho nhân dân, sau khi phân tích tình hình, Tỉnh ủy chủ trương phát động quần chúng đấu tranh phân hóa binh sĩ địch; đồng thời tổ chức lực lượng ra quận lỵ đấu tranh trực diện với địch. Bộ phận này do đồng chí Nguyễn Thị Định và đồng chí Út Thắng, Ủy viên Thường vụ huyện ủy Mỏ Cày phụ trách. Sáng ngày 1/4/1960, hàng nghìn quần chúng ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh dùng hàng trăm ghe, xuồng chở người già, trẻ con, vật dụng sinh hoạt… tản cư lên thị trấn Mỏ Cày. Tiếp đó khoảng 5.000 phụ nữ ở các xã lân cận cũng “tản cư ngược” ra thị trấn (thuật ngữ “tản cư ngược” ra đời từ đó). Lực lượng quần chúng với hơn 10.000 người tràn vào trường học, bệnh viện, thánh thất, bưu điện, trụ sở Nghị sỹ Quốc hội và bao vây trụ sở quận. Nhân dân tố cáo lính thủy quân lục chiến tàn sát người vô tội, hãm hiếp phụ nữ, cướp bóc tài sản và đưa ra yêu sách cho nhân dân được nương náu và rút hết lính “áo rằn”. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày, đêm. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, địch rút khỏi 3 xã. Bộ phận đánh địch do đồng chí Ba Đào (Lê Minh Đào) phụ trách tiếp tục bám trụ chống càn, tổ chức phục kích kết hợp bố trí chông, mìn, lựu đạn và các tổ bắn tỉa liên tục tiến công địch. Lần đầu tiên súng ngựa trời do ta sản xuất, xuất hiện trong các trận đánh. Sau 10 ngày chiến đấu, dân quân, du kích diệt 200 tên, làm bị thương hơn 100 tên.
Từ kinh nghiệm Đồng khởi của Bến Tre, tháng 9/1960, xứ ủy Nam Bộ, phát động cao trào Đồng khởi toàn Nam bộ. Chấp hành chỉ thị của trên, Tỉnh ủy Bến Tre mở cuộc Đồng khởi đợt 2 trong toàn tỉnh. Hướng chính là Giồng Trôm, hướng phát triển là Mỏ Cày; lấy 5 xã: Phong Nẫm, Phong Mỹ, Châu Phú, Châu Hòa, Châu Bình của huyện Giồng Trôm làm điểm; cùng với 5 xã điểm, 100 xã trong toàn tỉnh đồng loạt nổi dậy trong đêm ngày 24/9/1960. Trước sức mạnh của nhân dân toàn tỉnh, ta bức rút, bức hàng gần 100 đồn, bót địch; 51 xã hoàn toàn giải phóng.
Tại Giồng Trôm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Thị Định, bằng phương châm đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự và binh vận, trung đội vũ trang huyện phối hợp với du kích, cơ sở nội tuyến và binh vận của nhân dân bao vây bức rút, bức hàng 20 đồn địch dọc theo sông Ba Lai. Điển hình là du kích kết hợp binh vận lấy đồn cảnh sát Chống (cơ sở nội tuyến của ta, dưới danh nghĩa là người đạo công giáo), Đồn Châu Phú, Đồn Nhà thờ La Mã, thu hàng trăm súng, vận động lính trong đạo công giáo và đạo Hòa Hảo mang súng theo kháng chiến. Huyện Giồng Trôm giải phóng hoàn toàn 9 xã, 5 xã giải phòng 3/4 đất đai, phá vỡ bộ máy kềm kẹp của địch. Phong trào du kích chiến tranh phát triển hầu hết các xã trong huyện, đặc biệt là trình độ và khả năng phối hợp chiến đấu được nâng lên một bước.
Tại huyện Mỏ Cày, sau Đồng khởi đợt 1, địch sử dụng lực lượng bảo an tái chiếm đóng lại 27 đồn bót đã bị ta san bằng. Trên khắp địa bàn huyện Mỏ Cày, lực lượng du kích làm nòng cốt duy trì thế tiến công địch, bảo vệ vùng giải phóng. Trong Đồng khởi đợt 2, bằng lối đánh phục kích, hóa trang kỳ tập, kết hợp cơ sở nội tuyến với binh vận gia đình binh sỹ địch trước, trong và sau các trận đánh đã tiêu diệt, bức hàng nhiều đồn. Điển hình là các trận tập kích công sở xã Thành Thới, diệt và làm bị thương 24 tên, thu 27 súng; diệt Đồn chợ Cái Quao; bót cầu Ông Tạo xã Tân Phú Tây; bót Tài Đại xã Khánh Thạnh Tân… huyện Mỏ Cày, giải phóng hoàn toàn 10 xã; 12 xã giải phóng 3/4 đất đai; các xã dọc theo tuyến giao thông địch chỉ làm chủ ban ngày.
Tại Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, trong Đồng khởi đợt 1 và đợt 2, cũng bằng đấu tranh chính trị kết hợp du kích chiến tranh và binh địch vận ta bức rút, bức hàng nhiều đồn bót, diệt trừ nhiều ác ôn. Xây dựng hệ thống xã, ấp chiến đấu, lập các tuyến chông, mìn, lựu đạn dọc theo tuyến giao thông quan trọng, nhiều xã được giải phóng, vùng giải phóng mở ra thế liên hoàn.
Sau Đồng khởi, phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh mẽ, bằng vũ khí tự tạo, du kích đã sáng tạo nhiều cách đánh độc đáo và hiệu quả cao: Anh Nguyễn Văn Tư, Xã đội trưởng xã Tân Thành Bình (Mỏ Cày) dày công nuôi ong vò vẽ, luyện ong đánh giặc (được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân). Theo gương anh, nhân dân và du kích nhiều xã đã phát triển đàn ong ra khắp tỉnh trở thành “đội quân ong”, địch nghe đến phải khiếp sợ. Du kích xã Định Thủy (huyện Mỏ Cày) cắm cờ trên đọt dừa gài lựu đạn, địch cho trực thăng đến nhổ cờ trái nổ làm máy bay địch rơi tại chỗ. Ở huyện Giồng Trôm, anh Lê Văn Chính đã sáng chế giàn mang-ên (giàn thung bắn lựu đạn), kết hợp ong vò vẽ, chông, mìn, lựu đạn bày trận dụ địch vào diệt một trung đội. Du kích xã Bình Thành đốn dừa kết thành bè lợi dụng dòng nước chảy siết thả bè đánh sập cầu Bình Chánh, cắt giao thông huyết mạch từ thị xã đi Giồng Trôm, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ở Mỏ Cày, du kích còn đánh địch bằng binh vận: nữ du kích Tạ Thị Kiều (xã An Thạnh) và Út Tuyết (xã Đa Phước Hội), tay không dùng mưu lấy súng, gỡ đồn địch (Tạ Thị Kiều được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân)…
Từ thực tiễn cao trào Đồng khởi năm 1960 có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo phong trào du kích chiến tranh kết hợp đấu tranh chính trị và binh vận của Bến Tre: Một là, làm tốt công tác tổ chức, xây dựng phong trào du kích chiến tranh tồn tại và phát triển trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình thế của chiến tranh. Hai là, dựa vào thực tế tình hình địa phương, đề ra chủ trương, biện pháp đấu tranh thích hợp. Ba là, tự lực, tự cường sáng tạo nhiều cách đánh du kích, kết hợp nhuần nhuyễn ba mũi giáp công “quân sự, chính trị, binh vận”.



