Du kích và tự vệ Bến Tre trong phong trào Đồng khởi năm 1960
Ở Bến Tre, các đội du kích ra đời và phát triển từ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng và chiến tranh nhân dân ở địa phương, đã bám trụ tại xã, ấp cùng với bộ đội địa phương và nhân dân thực hiện chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện. Kế thừa và phát triển cách đánh của chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, lực lượng dân quân, du kích đã sáng tạo nhiều cách đánh mà địch không lường được, gây cho chúng nhiều thiệt hại, tinh thần hoang mang… Trong kháng
Khi thực dân Pháp đánh chiếm Bến Tre, quân và dân Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Tỉnh ủy chỉ đạo tập trung xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng để tiến hành cuộc kháng chiến. Lực lượng “tự vệ chiến đấu quân” (du kích quân) ra đời, được nhân dân lấy tên của người chỉ huy đặt tên cho các đơn vị như: Mỏ Cày có Bộ đội ông Xem (còn gọi là Bộ đội Quang Trung), Bộ đội Phạm Hồng Thái; huyện Tán Kế có Du kích Tân Hào do ông Bảy Cống (Đồng Văn Cống) chỉ huy; Bộ đội ông Tá, ông Tỷ; Châu Thành có Bộ đội ông Bài, ông Hùng; Ba Tri có Bộ đội ông Mười Chót… Các đơn vị đó, thực chất là những đội du kích từ nhân dân mà ra, dựa vào dân mà chiến đấu, được nhân dân nuôi dưỡng. Ở giai đoạn này, các đội du kích đã tổ chức một số trận phục kích, đánh những tốp địch hành quân nhỏ lẻ.
Từ 1947 - 1951, chiến trường Bến Tre đứng trước những khó khăn do địch tăng cường bình định, lấn chiếm, xây dựng hệ thống đồn bót, tháp canh (toàn tỉnh địch xây dựng 468 đồn tua), nhiều vùng căn cứ du kích bị thu hẹp. Giai đoạn này, một số địa phương do chưa nắm chắc chủ trương, ý định của cấp trên, đánh giá không đúng tình hình địch - ta nên không đủ sức đối phó, ngăn chặn, đánh trả bình định của địch; bị mất đất, mất dân phải bỏ địa bàn sang tỉnh Vĩnh Trà. Việc khôi phục lại cơ sở, gây dựng phong trào phải chịu nhiều tổn thất (quá trình về bám địa phương, gây dựng cơ sở, gần 2.000 đảng viên, cán bộ hy sinh).
Trước tình hình trên, tại Dừa Đỏ, tỉnh Vĩnh Trà (cuối 1952), Tỉnh ủy tổ chức hội nghị có đồng chí Phạm Thái Bường, phái viên Trung ương Cục đến dự. Hội nghị chủ trương: “Tiếp tục duy trì và phát triển cơ sở kháng chiến, giành người, giành của, bảo vệ cán bộ cơ sở và phát triển du kích chiến tranh; từng bước đẩy mạnh kháng chiến tiến lên”[1], “Đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, tăng cường công tác dân vận - địch ngụy vận kết hợp với tác chiến, vũ trang tuyên truyền, đưa phong trào tiến lên vững chắc”[2]. Sau hội nghị, Tỉnh ủy chọn địa bàn Thạnh Phú làm điểm đột phá phản công địch. Lấy công tác binh vận kết hợp với nổi dậy của quần chúng và tác chiến của bộ đội huyện, du kích xã, đánh vào chỗ yếu của địch; chuyển vùng bị chiếm thành vùng du kích và vùng giải phóng. Giai đoạn này, với tinh thần tư lực, tự cường dân quân, du kích bằng vũ khí thô sơ, tự tạo (mã tấu, chông, mìn, lựu đạn, súng ngựa trời), lấy vũ khí địch đánh địch. Phối hợp với bộ đội huyện và cơ sở nội tuyến, binh vận gỡ nhiều đồn, thu vũ khí. Nhiều vùng du kích được mở rộng như: Thạnh Phú, Mỏ Cày, Châu Thành, Ba Tri, An Hóa, vùng giải phóng được mở rộng liên hoàn.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954), trên cơ sở nắm vững mục tiêu của cách mạng miền Nam, với ý thức chuẩn bị xây dựng lực lượng kháng chiến cho địa phương, Tỉnh ủy lựa chọn số cán bộ, đảng viên cốt cán ở lại bám đất, bám dân lãnh đạo phong trào. Hệ thống tổ chức đảng từ tỉnh đến xã được bí mật thành lập; tổ chức lực lượng “Thanh niên mật” (du kích mật), các đội vũ trang để bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở, trừ gian, diệt ác ôn được hình thành. Một số đảng viên, đoàn viên, quần chúng nòng cốt được cài vào dân vệ, bảo an làm cơ sở nội tuyến trong các đồn bót và bộ máy tề xã, tề ấp. Đây là một chủ trương vô cùng sáng suốt, chuẩn bị về lực lượng sẵn sàng nổi dậy khi thời cơ đến.
Từ 1956 - 1959, Mỹ và chính quyền Sài Gòn thi hành nhiều biện pháp khủng bố như “tố cộng, diệt cộng”; thi hành “Luật 10/59”, ráo riết lùng sục, bố ráp tìm bắt cán bộ, đảng viên và cơ sở cách mạng (gần 1.000 cán bộ, đảng viên bị bắt, bị giết). Trước hành động khủng bố tàn khốc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, để bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở; giữ thế phong trào đấu tranh của quần chúng, Tỉnh ủy phát động phong trào trừ gian, diệt ác. Cơ sở nội tuyến được lệnh hành động phối hợp với du kích mật và quần chúng nòng cốt để thực hiện. Ở Phước Hiệp (Mỏ Cày) lực lượng du kích mật diệt tên Đa - phần tử chiêu hồi, phản bội; diệt tên cảnh sát Cái ác ôn; Ba Tri diệt tên đội Gấm… Một số nơi khác, các tổ, đội du kích mật tăng cường trừ gian, diệt ác… làm cho bọn cảnh sát, chỉ điểm phải hoảng sợ, không còn hung hăng như trước, lấy lại niềm tin trong quần chúng nhân dân. Trước khi nổ ra Đồng khởi, các xã trọng điểm của huyện Mỏ Cày và Giồng Trôm xây dựng được lực lượng du kích mạnh, hầu hết các đồn, tề xã, ấp đều có cơ sở nội tuyến của cách mạng.



