Thân nhân liệt sĩ, người có công

ĐỨC CỐ QUẢN TRẦN VĂN THÀNH

Gia Lai04/09/2026Xã Vĩnh Tuy (Đoàn xã Vĩnh Tuy)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
ĐỨC CỐ QUẢN TRẦN VĂN THÀNH

Một người tự thuở thiếu niên đã lập nhiều công trạng, góp phần cho công cuộc trị an một vùng trọng yếu phía Tây Nam. Khi việc binh đã ổn, Người lui về dưỡng trí tu thân. Cơ duyên lại gánh vác mạng mạch đạo pháp, lãnh ấn “Bửu Sơn Kỳ Hương” phổ truyền trong thiện tín, cùng nhân dân mở đất lập làng, đặt nền móng cho vùng đồng Láng Linh hôm nay trù phú, phì nhiêu. Khi đại bác của Lang Sa gây khói lửa ở thành An Giang, Người lại đốc thúc môn nhơn cùng dân chúng hiệp lòng dưới ngọn cờ Tứ n, lấy Bảy Thưa làm căn cứ gầy cuộc chiến đấu lâu dài. Giữa lúc các thủ lãnh kháng Pháp ở miền Tây ngã xuống gần hết, Người lại trổi lên như một ngọn lửa cuối cùng bừng lên giữa đống tro tàn, khiến cho địch quân phải hãi hùng kinh sợ. Tuy chí lớn của Người không thành, nhưng tinh thần người đã khêu sáng cả vùng Láng Linh - Thất Sơn, để hơn trăm năm trải qua, hậu thế vẫn còn truyền lưu sử tích.

Người nguyên danh là Trần Văn Thành, quê quán ở Cồn Nhỏ, làng Bình Thạnh Đông, ngày nay thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Vì có công dẹp giặc Cao Miên dưới thời vua Thiệu Trị và Tự Đức nên người từng được phong chức Suất Đội rồi lên Quản Cơ. Người có công lớn với đạo và đời, hậu duệ người là ông Trần Văn Nhu, Trần Quang Nhơn đều là những bậc đạo hạnh cao siêu, ân nhuần thiện tín nên dân chúng đời sau kính cẩn gọi người là Đức Cố Quản - nghĩa là ông cố (tằng tổ) làm chức Quản Cơ.

Đức Cố Quản được sinh ra trong một gia đình trung nông. Các tài liệu về Ngài đều không ghi thống nhất năm sinh. Theo học giả Nguyễn Văn Hầu, năm 1840 Ngài đã ngoài 20 tuổi, tức là phải sinh từ năm 1820 trở về trước.

Theo tài liệu của Sơn Nam, Đức Cố Quản “vóc to lớn, mạnh khoẻ, gương mặt nghiêm nghị, nhìn thấy là phải kính trọng và ngưỡng mộ, hăng hoạt động, rất thông minh”. Lúc về già Ngài thường bịt một cái khăn xướt bằng nhiễu điều và mỗi khi ra trận người ta thấy Ngài luôn luôn mặc ở ngoài một lớp áo nhuộm màu dà. Từ nhỏ Ngài đã được học chữ Nho, lớn lên lại giỏi võ nghệ.

Ngài có vợ là bà Nguyễn Thị Thạnh, quê ở rạch Sa Nhiên (Đồng Tháp) cũng là một người võ giỏi, văn hay. Trong sự nghiệp của Đức Cố Quản, có thể nói Bà Cố đã tỏ rõ vai trò của một bực hiền phụ đức hạnh vẹn toàn. Trong thì lo gia đạo yên bề, ngoài lại giữ an sĩ tốt.

Ông Bà sinh hạ được cả thảy sáu người con: ba trai, ba gái. Con trai trưởng là ông Trần Văn Nhu, rồi đến bà Trần Thị Hè, ông Trần Văn Chái, bà Trần Thị Nên, bà Trần Thị Núi và người con trai út qua đời khi mới 7 tuổi, tục gọi là cậu Bảy Trạng vì còn nhỏ mà đỉnh ngộ thông minh, biết được nhiều việc. Trong số ấy, có ông Trần Văn Nhu là người tiếp nối Đức Cố Quản trong cả việc đạo lẫn việc quân, từng ẩn lánh sang tận Cao Miên, sau về ẩn tu và tịch tại Trà Bang (Hậu Giang). Và ông Trần Văn Chái tham gia khởi nghĩa, khi bị giặc bắt đã tự mình kết liễu bằng chính con dao Bà Cố lẻn gửi vào ngục để bảo toàn khí tiết, khi ấy ông chỉ mới vừa 18 tuổi xanh.

Phần Đức Cố Quản, đã có chí lớn từ nhỏ, Ngài sớm ra tòng quân. Nhờ có tài nghệ xuất sắc, Ngài đã được bổ làm Suất đội chỉ huy 50 người.

Năm Canh Tý (1840), Nặc Ông Đôn dựa vào thế lực của Xiêm La, cướp ngôi anh là Nặc Ông Chân; nổi loạn ở Chân Lạp, chống lại sự bảo hộ của triều đình Đại Nam. Đức Cố đã chỉ huy dẹp yên quân nổi loạn. Sau trận thắng đó, Ngài được triều đình Huế phong lên chức Chánh Quản Cơ chỉ huy 500 quân.

Trong khoảng năm 1841-1845, Ngài từng đem quân đi bình định người Cao Miên nổi dậy ở Láng Cháy (Tri Tôn). Và còn đánh dẹp nhiều cuộc khởi nghĩa ở Trà Vinh, Sóc Trăng,…

Trong số người Cao Miên quy hàng Đức Cố Quản, có hai nhân vật là ông Bướm và ông Vôi là hai tướng Chân Lạp được dân gian vùng Thất Sơn thường nhắc đến để nêu cao đức độ và tài năng của Ngài. Trong “Kim Cổ Kỳ Quan” của ông Nguyễn Văn Thới còn nhắc: “Tần hữu Phật Bướm Vôi, Hớn đa ngôi tiên thánh” là chỉ hai nhân vật ấy.

Khi thời cuộc đã bình ổn, theo chính sách “ngụ binh ư nông” thời Tự Đức, Đức Cố Quản trở về quê ở Bình Thạnh Đông sống đời thanh bình, chuyên lo cày cấy và thường đọc sách Phật, nghiền ngẫm đạo lý.

Năm Kỷ Dậu (1849), có ông đạo ra đời nổi tiếng khắp vùng mà dân gian tôn xưng là Đức Phật Thầy Tây An, tục danh Đoàn Văn Huyên. Ngài xuất hiện ở Tòng Sơn (Lấp Vò, Đồng Tháp), sau lại đến Xẻo Môn rồi sang trú tại cốc ông đạo Kiến (Chợ Mới, An Giang) để trị bịnh và truyền giảng mối đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Đức Cố Quản đã đến gặp và chính thức trở thành vị đệ tử đầu tiên trong “thập nhị hiền thủ” của Đức Phật Thầy tại đây.

Khi Đức Phật Thầy về ở núi Sam theo sắc lịnh của vua Tự Đức, Đức Cố Quản đã đem hết gia đình theo hầu cận thầy, bỏ lại cả cơ nghiệp trù phú ở Bình Thạnh Đông.

Năm Tân Hợi (1851), Đức Cố Quản lãnh lịnh Đức Phật Thầy dẫn tín đồ vào khai phá khu vực quanh Anh Vũ Sơn, lập nên hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn (Thới Sơn, Tịnh Biên), sau Ngài lại đến vùng đồng Láng Linh (Châu Phú, An Giang), tiếp tục dựng nên trại ruộng Bửu Hương Các để làm nơi tu hành và canh tác. Cũng trong năm ấy, Ngài thực hiện việc cắm Thẻ quanh vùng Thất Sơn theo lời dạy của Đức Phật Thầy. Việc ấy mang nhiều ý nghĩa lịch sử và huyền bí mà đến nay vẫn còn là đề tài tốn nhiều giấy mực.

Năm Bính Thìn (1856), Đức Phật Thầy Tây An viên tịch tại núi Sam. Đức Cố Quản lãnh ấn Bửu Sơn Kỳ Hương, thay thế Đức Phật Thầy tiếp tục lo truyền bá mối đạo.

Năm Mậu Ngũ (1858), thực dân Pháp nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Tháng 2 năm 1861, Đại đồn Chí Hòa thất thủ, sau đó quân Pháp lần lượt đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Hưởng ứng lời kêu gọi của vua Tự Đức, Đức Cố Quản đã lãnh đạo tín đồ cùng nghĩa quân đứng lên chống Pháp.

Năm Ất Sửu (1865), sau khi phái bộ triều đình đi Pháp chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ thất bại, vua Tự Đức đã lịnh cho cả nước không kháng Pháp và truy nã các lãnh tụ kháng Pháp. Triều đình lịnh cho cụ Phan Thanh Giản phải lùng bắt Thiên hộ Dương, cụ đã giao việc ấy cho Đức Cố Quản, nhưng Ngài chỉ làm cho lấy có.

Ngày 20 tháng 6 năm 1867, quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long. Sau đó, một đoàn tàu chiến do trung tá hải quân GaLey cầm đầu, tiến lên uy hiếp thành Châu Đốc, buộc Tổng đốc Phan Khắc Thận phải đầu hàng, tỉnh An Giang mất ngày 22 tháng 6 năm 1867.

Để cứu nguy nước nhà, Đức Cố Quản tự tổ chức dân binh đắp cản ở quê nhà Bình Thạnh Đông để ngăn quân Pháp, đồng thời mang quân qua phía Rạch Giá, hỗ trợ cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực. Tháng 6 năm 1868, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đánh chiếm được đồn Kiên Giang mấy ngày thì bị quân Pháp tổ chức phản công. Lập tức, Đức Cố Quản cho quân đắp cản ở Ba Bần, Trà Kên (Thoại Sơn, An Giang) để ngăn tàu chiến Pháp đi tái chiếm tỉnh lỵ Rạch Giá.

Cuộc cản phá thất bại, cụ Nguyễn Trung Trực thua rút quân ra Hòn Chông (Kiên Lương, Kiên Giang), còn Đức Cố Quản thì dẫn lực lượng của mình vào Láng Linh dựng trại, khẩn hoang làm ruộng, luyện quân và rèn đúc vũ khí… để chuẩn bị làm cuộc đánh đuổi ngoại xâm.

Láng Linh bấy giờ là một cánh đồng ngập trũng bao la rộng lớn thuộc huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang (nay nằm trên địa bàn các xã Thạnh Mỹ Tây, Đào Hữu Cảnh, Bình Phú - huyện Châu Phú, An Giang). Nơi đây, trừ những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương thường ra vô Bửu Hương Các là trại ruộng do Đức Cố Quản lập hồi năm 1851 thì quanh năm ít người lui tới.

Đồng này, phía Bắc giáp núi Sam, Đông cặp theo bờ sông Hậu, Tây dựa vào Thất Sơn và Nam liên tiếp với rừng Bảy Thưa. Đó là một nơi hiểm địa, ít kinh rạch thông vào, mọc nhiều lau, sậy, đế; đặc biệt là có nhiều cây trát thưa bao phủ. Nhà cầm binh có thể dùng làm nơi tiến, thoái, công, thủ đều được vững vàng.

Tại vùng đất này, Đức Cố Quản đã tận dụng địa hình hiểm trở để lập căn cứ kháng Pháp. Ngài đã lập ra 6 đồn theo 4 phương: Đông – Tây – Nam – Bắc: đại bản doanh ở trung tâm là đồn Hưng Trung nay thuộc xã Đào Hữu Cảnh huyện Châu Phú, phía Bắc là đồn Hờ trong địa phận xã Vĩnh Thạnh Trung, phía Đông là đồn Sơn Trung và đồn Giồng Nghệ nằm ở rạch Hang Tra nay thuộc huyện Châu Thành, phía Nam là trạm canh ông Tà thuộc Tri Tôn, phía Tây là đồn Cái Môn (Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú).

Để phòng thủ chắc chắn căn cứ, Ngài lập đồn Hàng Trằm (nằm cùng hướng với đồn Hờ về phía Bắc vài trăm mét) và đồn Lương để cung ứng lương thực cho nghĩa quân. Mỗi đồn đều được trang bị vũ khí, với 150 quân phòng thủ. Bài vè của Vương Thông đã mô tả sinh động cảnh xây dựng đồn lũy trên: “Quan quân phòng bị bốn bên/ Đông, tây, nam, bắc dưới trên canh phòng”.

Đức Cố Quản phất cờ chống Pháp, đặt tên cho đội quân của mình là “Binh Gia Nghị”, lấy chiến khu Bảy Thưa làm căn cứ kháng chiến. Theo tờ trình của Pháp năm 1870, thì lúc bấy giờ lực lượng của Đức Cố Quản có khoảng 1.200 nghĩa quân, trong đó phần đông là tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương.

Dưới trướng Đức Cố Quản có những người chỉ huy giỏi, nhiều uy tín và đức độ trợ giúp. Về võ có các ông Đội Nhất Năng, Đội Nhất Lê Văn Vang, Đội Sang, Đội Nhì Nhiều, Đội Nhì Lượng, Đội Tư Đinh Văn Hiệp, Đội Tám Trần Văn Đinh, Đề Đốc Văn, Đề Đốc Nguyễn Kế Trung, Hiệp Quản Tú… và ông Trần Văn Nhu, Trần Văn Chái tức các con trai của Cố. Về văn có nhà Nho Phạm Văn Khuê người làng Bình Thuỷ, Cần Thơ; bà Cố Quản và bà Trần Thị Nên là con gái Cố. Họ đều là những người văn chương lỗi lạc và có tài thao lược nên công cuộc tổ chức rất có quy củ và nề nếp.

Nghĩa quân có xưởng đúc thủ công, tự trui rèn vũ khí, chế tạo súng đạn; được sự tiếp tế nguyên liệu và lương thực của nhân dân quanh vùng. Các chiến binh được trang bị gọn nhẹ với đao, kiếm, dao găm, súng điểu thương, tác chiến theo lối du kích, đột kích.

Khi phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ đã bị tan rã gần hết, lực lượng của Đức Cố Quản lâm vào thế cô, và Ngài trở thành nhân vật bị Pháp truy nã, treo giải thưởng cao. Người Pháp từng treo thưởng 1.000 france, cho ai bắt được “Tổng binh Thành, gốc ở Thất Sơn”.

Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa kéo dài từ năm 1867 đến năm 1873 với những trận giao tranh ác liệt, tạo chiến công vang dội làm cho quân Pháp phải nao núng. Chiến khu Bảy Thưa là cái gai nhọn chọc vào mắt bọn thực dân Pháp, là mối lo làm chúng ăn ngủ không yên.

Năm Tân Mùi (1871), một cộng sự của Pháp là Trần Bá Lộc thử hành quân vào Bảy Thưa, nhưng chẳng thâu được kết quả do sình lầy, bốn phía lau sậy mù mịt, thỉnh thoảng bị phục kích.

Tháng 4 năm 1872, Pháp cho mật thám đột nhập vào Láng Linh điều nghiên tổ chức của nghĩa quân. Đức Cố Quản chủ động tấn công trước, công khai tuyên chiến và đánh mạnh vào các đồn luỹ của Pháp dọc theo sông Hậu và rạch Mặc Cần Dưng. Đến tháng 6, quân Pháp đưa quân từ nhiều mặt tiến vào bao vây căn cứ Bảy Thưa. Nghĩa quân anh dũng chống trả nhưng do lực lượng không cân xứng nên quân Pháp chiếm được đồn Giồng Nghệ. Nhưng sau đó chúng phải rút lui vì không chịu được môi trường khắc nghiệt và sợ nghĩa quân bao vây đánh trả.

Cùng năm này, Đức Cố Quản đã có liên kết với khởi nghĩa Lê Cẩn ở Vĩnh Long, hạ sát Tham biện Vĩnh Long Alix Salicetty ở Vũng Liêm.

Biết khó thể đánh bại được Ngài, đầu năm 1873, người Pháp chuyển sang thế ôn hoà, tìm cách chiêu dụ Đức Cố Quản, bức thư chiêu hàng được gửi vào Bảy Thưa kèm với lời hứa trọng thưởng hậu hĩnh nếu Ngài chịu ra hợp tác với chúng. Đức Cố Quản khước từ và quyết tâm kháng Pháp. Không chiêu dụ được Ngài, quân Pháp tập trung lực lượng chuẩn bị cho cuộc càn quét qui mô vào căn cứ Bảy Thưa.

Từ tháng 3 năm 1873, thực dân Pháp cho quân đánh phá đồn Hờ, và uy hiếp đồn Giồng Nghệ rồi kéo dần vào rừng. Đi đến đâu, chúng nã đại bác vào phía trước và cho dân dọn đường phía sau đến đó. Qua 5 ngày chiến đấu, quân Bảy Thưa lui dần. Quân Pháp không tiến nhanh được vì chưa thích nghi được môi trường. Ngày 19 tháng 3, hải quân Pháp từ Châu Đốc tiến vào đánh đồn Cái Môn. Tuy có hào sâu nhưng vì súng của nghĩa quân bắn không được xa, lại nhiều phát không nổ, nên chẳng bao lâu quân Pháp tràn vào được bên trong. Tuy vậy, chúng cũng bị thương và chết gần một phần tư mới chiếm được đồn.

Cùng ngày ấy, tàu chiến Pháp đậu tại vàm rạch Mặc Cần Dưng, ngoài sông Hậu, rồi cho quân dùng xuồng nhỏ vào ngọn rạch Mặc Cần Dưng để tiến tới ngọn Hang Tra là nơi Đức Cố Quản đang chỉ huy chiến cuộc. Biết mình đang bị bao vây, và người Pháp có vũ khí hữu hiệu, nhưng Ngài và nghĩa quân vẫn cương quyết đối phó.

Theo Sơn Nam, khoảng 9 giờ sáng ngày 19 tháng 3 năm 1873, quân Pháp bắt đầu xung phong đánh chiếm Hưng Trung doanh. Báo Le Courrier de Saigon ra ngày 5 tháng 4 năm 1873 tường thuật: “Tại Hưng Trung, Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh đứng sau chiến lũy làm bằng những tấm ván và những bao gạo chồng lên nhau, để đốc thúc nghĩa binh chiến đấu. Nghĩa quân trong các chiến lũy thổi tù và, đánh trống và reo hò để tăng uy thế. Bên cạnh ông còn có con trai ông hỗ trợ cho ông bắn…”

Nhà văn Sơn Nam kể: “Ông Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh đối phó, tuy đang bị vây. Ông đứng sau phòng tuyến làm bằng ván với những bao gạo chồng chất. Ông thách thức bọn Pháp, dùng ống loa mà chửi rủa thậm tệ. Đồng thời ông day về phía quân sĩ của mình mà khích động tinh thần; quân sĩ hò reo vang rân, chửi rủa bọn Pháp, trống đánh liên hồi. Ông Trần Văn Thành cắt từng lọn tóc nhỏ của mình mà phân phát cho các tín đồ… Bọn Pháp được lịnh đánh tràn vào. Ông Thành mặc áo màu đỏ sậm, đốc thúc chiến sĩ, ra hiệu lịnh, bên cạnh ông là đứa con ruột đang tiếp tay và đích thân ông bắn súng…”

Trước hỏa lực mạnh mẽ của đối phương, dù cố gắng chống trả nhưng chỉ vài giờ sau thì quân Bảy Thưa cũng bị đánh tan.

Tối ngày 20 tháng 3 năm 1973 (nhằm này 21 tháng 2 năm Quí Dậu) đồn Hưng Trung bị vỡ, giặc Pháp tràn vào tìm thấy còn khoảng 10 xác nghĩa quân và bắt được một số người bị thương, nhưng không tìm thấy thi thể Đức Cố Quản. Theo học giả Nguyễn Văn Hầu, Đức Cố Quản biệt vô âm tín từ ấy, không biết Ngài có tử trận hay không?

Xong trận này, quân Pháp thu được các súng hạng nhẹ, còn súng đồng và những lò đúc đạn dược thì họ phá hoại rồi đẩy xuống đìa cho mau mụt sét. Các đồn trại và lương thực, họ nổi lửa đốt cháy hết ba ngày mới tắt.

Đức Cố Quản Trần Văn Thành là một chí sĩ kiên trung, một nhà tu đức hạnh, Ngài gánh vác trên mình hai ngọn cờ yêu nước và tín ngưỡng. Chỉ với vũ khí thô sơ, bằng tinh thần ái quốc ưu dân và niềm tin vào tôn giáo, Ngài đã cùng nhân dân Nam Kỳ đứng lên chống lại vũ khí tối tân và lực lượng hùng hậu của Lang Sa mà không hề khiếp đảm. Khi nói đến các lãnh tụ khởi nghĩa ở Nam Kỳ cuối thế kỷ 19, ông Vương Thông từng nhắc về Đức Cố Quản như sau: “An Giang có một ông đây/ Chữ dạ ngay thầy ái quốc ưu dân/ Thà thua xuống láng xuống bưng/ Kéo ra đầu giặc lỗi chưn quân thần”.

Đức Cố Quản đã vận dụng tối đa giáo lý “Tứ n”, mà hơn hết là n Đất Nước do Đức Phật Thầy Tây An truyền dạy để kêu gọi nghĩa binh đứng lên đánh giặc, bảo vệ non sông.

Tuy nổ ra thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa vẫn được đánh giá cao qua cách tổ chức khoa học, quy tụ được nhiều thành phần tham gia. Thời kỳ ấy, chỉ có Đức Cố Quản là người dám chọn Láng Linh để làm nơi đồn trú, vì đó không phải là chỗ dễ dàng khai phá lại nhiều nguy hiểm. Ngài là một nhà tu nhưng không bi quan yếm thế, lại tích cực xả thân xông pha vào trận địa khi nước nhà nguy biến.

Đức Cố Quản là một biểu hiện cho tinh thần nhập thế trong pháp môn “Học Phật - Tu Nhân” của Bửu Sơn Kỳ Hương. Chứng tỏ, khi người Pháp đến, giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương đã gây được sự tin cậy của đồng bào và đã trở thành nơi nương tựa tinh thần cho nghĩa quân Bảy Thưa chiến đấu chống giặc ngoại xâm.

Một điều đáng nói là khởi nghĩa Bảy Thưa nổ ra khi các cuộc khởi nghĩa lớn ở Nam Kỳ đã dần lụi tàn, thế mà tại vùng biên địa xa xôi, nơi đồng sâu, rừng rậm lại bừng bừng khí thế đấu tranh làm cho thực dân Pháp phải nhiều phen kinh sợ. Đức Cố Quản đã gây được một phong trào yêu nước mạnh mẽ cho nhân dân vùng hẻo lánh. Ngài là lãnh tụ nghĩa binh Gia Nghị, đồng thời cũng là người dẫn dắt đời sống tinh thần cho nhân dân trong vùng kể từ khi Đức Phật Thầy Tây An viên tịch.

Ngày Hưng Trung doanh thất thủ, không ai biết Đức Cố đã thác hay đã đi đâu. Nhưng từ đấy, Ngài mặc nhiên hiển hiện trong đời sống tâm linh của người dân vùng Láng Linh - Thất Sơn. Cho đến nay, hơn trăm năm bể hoá nương dâu, nhiều di tích đã vùi sâu vào lòng đất nhưng tinh thần Quản Cơ Trần Văn Thành vẫn còn soi sáng mãi, hào khí Bảy Thưa vẫn ngời trên mảnh đất địa linh.

Nhiều nơi trong vùng phát hiện dấu cũ đã lập đền thờ khang trang, ngày ngày hương khói. Nhân dân vẫn nhắc nhở tích xưa, cùng truyền tai nhau những điều linh hiển. Hằng năm, ngày Đức Cố Quản thất tung được tổ chức đại lễ tưởng niệm long trọng để tỏ lòng biết ơn một bậc anh linh ngời khí.

MINH NGUYÊN

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn