ĐỤC LẤY XƯƠNG BÁNH CHÈ, NƯỚNG SẮT ĐỎ ĐÂM XUYÊN QUA BẮP CHUỐI
ĐỤC LẤY XƯƠNG BÁNH CHÈ, NƯỚNG SẮT ĐỎ ĐÂM XUYÊN QUA BẮP CHUỐI
Cho đến nay, hình thức tra tấn dã man của địch – đục lấy xương bánh chè – vẫn còn hằn sâu trong tâm tưởng nhiều tù binh Trại giam tù binh Phú Quốc. Và câu chuyện điển hình của tội ác đục lấy xương bánh chè tù binh được anh em tù binh kể lại như sau:
Năm 1969, phân khu A2 do tên Hương làm Giám thị. Hắn là một tên giám thị rất gian ác, đánh đập tù binh hàng ngày một cách vô cớ. Hắn ăn bớt tiêu chuẩn của anh em và thậm chí còn cướp những món đồ một số anh em làm ra để đổi lấy thuốc hút. Hắn dựng lên bộ máy thám báo với những “đại diện và trưởng phòng” để giám sát tù binh. Về làm giám thị phân khu A2 khoảng một năm, tên Hương gây nên nhiều tội ác làm cho anh em vô cùng khổ cực và đau đớn. Tổ chức Đảng quyết định đấu tranh đòi thay tên giám thị này. Ngày 23-11-1969, gần 200 anh em tù binh phòng bệnh của phân khu A2 đồng loạt nổi dậy, hô vang “Đã đảo đàn áp”, “Đả đảo tên Hương giám thị”. Đồng thời, hàng ngàn tù binh trên sân khu giam cũng ào ào nổi dậy đấu tranh, kéo đến gần phòng bệnh nơi tên Hương đang đứng. Tên Hương sợ hãi và thoát thoát được khỏi cửa phòng bệnh nhờ bọn bên ngoài bắn yểm trợ. Khi ra tới cổng, hắn dùng súng bắn vào đoàn đấu tranh ở đầu nhà bếp làm bị thương 3 người.
Sau lưng hắn, tiếng la hét, tiếng đập vào cửa tôn từ các trại tù không ngớt vang lên, bọn giám thị cố dẹp nhưng không thể nào ngăn nổi. Trước làn sóng căm phẫn của anh em tù binh, Bộ Chỉ huy trại giam phải nhượng bộ, chấp nhận để anh em bầu Ban Đại diện tù binh trong phân khu giam và các trưởng phòng, phó phòng. Không để cho tù bình yên, chúng bắt đầu giờ nhiều thủ đoạn trả thù hèn hạ, tàn khốc:
Đầu tiên, chúng bắt anh Nguyễn Văn Nỉ (Bảy Ni), quê Củ Chi (Bí thư Đảng ủy phân khu A2) nhốt vào biệt giam 2 tra tấn. Thượng sĩ nhất Trần Văn Nhu trực tiếp chỉ huy nhóm tra tấn anh Bảy, hắn nghi anh là Bí thư Đảng ủy, người chỉ huy cuộc đấu tranh trên. Anh Bảy Ni bị bọn chúng đánh bằng dùi cui, thanh sắt vào mắt cá chân, cùi chỏ, gót chân, đầu gối, bàn tay. Tên Nhu lấy chiếc gậy đầu xanh đầu đỏ (gậy sinh tử) đánh 10 gậy làm đầu anh sưng phồng lên, máu chảy đầm đìa. Hắn bảo “cho ra bớt máu độc”. Sau một ngày hai đêm, Nhu đục gần hết răng của anh Bảy.
Sau đó, Nhu cùng tên Thiếu úy Quân cảnh Chu Quốc Mình (còn có tên Cóc, quê huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long) lấy cọng sắt bùng nhùng đốt đỏ rồi đâm qua bắp chân anh. Mỗi lần sắt đâm vào bắp chân, máu tuôn trào, anh ngất xỉu. Tĩnh lại, anh mắng chúng là bọn bán nước. Tức giận, tên Mình dùng đục (loại đục thợ mộc), đục lấy hai xương bánh chè đầu gối của anh. Máu chảy lênh láng. Chúng nướng cây cọc sắt đỏ lên rà ngay mép lỗ đầu gối mà hắn bảo là “kiểu cầm máu”, tay chân anh bị dùi sắt nung đỏ đâm xuyên hai bắp chân, hai bắp tay làm thịt cháy bốc khói. Đến khoảng 20 giờ ngày 22-12-1969, anh Bảy Ni trút hơi thở cuối cùng trên tay anh Đoàn Thanh Phương, người tù binh ở cùng Biệt giam 2. Anh Đoàn Thanh Phương kể: “Đồng chí Nì trước khi chết còn gắng sức hô: “Đả đảo đế quốc Mỹ và tay sai”, “Hồ Chí Minh muôn năm!”.
Chúng tiếp tục bắt tra tấn những người trong nhóm Bảy Ni, trong đó có anh Gương (quê Thái Bình). Anh bị chúng ghép tội cùng Bảy Ni chỉ huy đấu tranh nhưng anh không nhận. Vì vậy, tên Minh và tên Nhu đã dùng cọc sắt đánh vào đầu anh làm nứt sọ, máu chảy thấm đầy sàn phòng biệt giam và anh đã hy sinh.
Ngoài ra, trong đợt này chúng còn bắt anh Nguyễn Hải Phú (số tù 1925, quê Phú Yên, công tác giáo dục ở Củ Chỉ), lên Phòng Điều hành. Tên trưởng phòng giam số 14 đã đánh đập anh chết đi sống lại nhiều lần, rồi tống vào Biệt giam 2.


