Bài viết

Dũng sĩ Cát Bi Nguyễn Thế Phim – ký ức về trận đánh chia lửa với Điện Biên Phủ

Hải Phòng22/08/2026bantncatphp1 (Ban Thanh niên Công an TP)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bảy thập kỷ đã trôi qua kể từ đêm sân bay Cát Bi rực cháy, nhưng đối với ông Nguyễn Thế Phim – một trong những chiến sĩ trực tiếp tham gia trận tập kích sân bay Cát Bi ngày 7/3/1954 – những ký ức về một thời tuổi trẻ chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc vẫn còn nguyên vẹn.

Từ một thanh niên nông thôn Tiên Lãng mới tròn 20 tuổi, ông trở thành một trong 32 cán bộ, chiến sĩ làm nên chiến công Cát Bi, góp phần cắt giảm khả năng chi viện bằng đường không của quân Pháp cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ông Nguyễn Thế Phim sinh năm 1933 tại thôn Đồng Tiến, xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Quê hương ông khi ấy là một vùng nông thôn bốn bề sông nước, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn.

Tuổi thơ của ông gắn với những biến động lớn của đất nước. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông có điều kiện học văn hóa, tham gia Đội Thiếu nhi Cứu quốc rồi Đoàn Thanh niên cứu quốc. Ban ngày học chữ, buổi tối, người thanh niên trẻ lại cùng các anh chị tham gia phong trào bình dân học vụ.

Năm 1953, khi vừa tròn 20 tuổi, Nguyễn Thế Phim nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội 295 thuộc Tỉnh đội Kiến An. Cũng trong năm đó, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Cuối năm 1953, quân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, trong khi sân bay Cát Bi trở thành một trong những căn cứ hàng không quan trọng phục vụ việc vận chuyển binh lính, vũ khí và phương tiện chiến tranh.

Nguyễn Thế Phim cùng đồng đội được giao một nhiệm vụ đặc biệt: chuẩn bị tập kích sân bay Cát Bi. Ban đầu, những người lính trẻ chưa được biết mục tiêu thực sự của nhiệm vụ. Khoảng quý III năm 1953, lực lượng chủ yếu từ Đại đội 295 cùng một số chiến sĩ quân báo được tập kết về Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo để huấn luyện. Để đủ sức vượt qua hệ thống phòng thủ của sân bay, các chiến sĩ phải trải qua quá trình rèn luyện đặc biệt.

Họ tập chạy đường dài, có những đêm hành quân hàng chục ki-lô-mét. Không chỉ chạy trên đường, bộ đội còn luyện chạy trên những thửa ruộng vừa cày xới, mặt đất lồi lõm, trơn trượt để quen với địa hình thực tế. Người ngã xuống lại đứng dậy tiếp tục chạy. Họ tập bơi, tập vượt sông trong khi vẫn phải giữ cho súng đạn và thuốc nổ không bị ướt; tập ngụy trang, bí mật tiếp cận mục tiêu, cắt hàng rào, gỡ mìn và xử trí khi bị đèn pha của địch phát hiện. Những quả bộc phá, thủ pháo cũng được nghiên cứu, cải tiến để có thể nhanh chóng gắn lên máy bay.

Sự chuẩn bị kỹ lưỡng ấy là điều sống còn. Cát Bi khi đó được quân Pháp bảo vệ bằng hệ thống đồn bốt, tháp canh, nhiều lớp hàng rào dây thép gai và bãi mìn. Các đội tuần tra liên tục hoạt động cùng chó săn, xe cơ giới và hệ thống đèn pha. Với lực lượng bảo vệ đông đảo và địa hình sông nước bao quanh, sân bay được đối phương xem như một căn cứ rất khó xâm nhập.

Trước yêu cầu phải sử dụng một lực lượng nhỏ nhưng có khả năng đột nhập nhanh, đánh nhanh và rút nhanh, 32 cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn để thực hiện nhiệm vụ. Đó cũng là 32 con người đã xác định trước rằng mình có thể không trở về.

Trước giờ xuất kích, đơn vị nghe nhật lệnh của Bộ Quốc phòng và thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ, chiến sĩ chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Những người lính trẻ cùng hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

18 giờ ngày 5/3/1954, 32 cán bộ, chiến sĩ bắt đầu xuất phát từ khu vực Hùng Thắng, Tiên Lãng. Hành trình đến sân bay là một cuộc chiến thầm lặng trước khi trận đánh thực sự bắt đầu. Đơn vị vượt sông Văn Úc bằng thuyền của nhân dân, tiếp tục di chuyển qua nhiều địa bàn rồi vượt sông Đa Độ để đến khu vực Kiến Thụy. Tại đây, nhân dân và các cơ sở cách mạng bí mật che giấu bộ đội. Người xuống hầm bí mật, người ẩn mình trong những đống rơm, đống rạ để tránh sự phát hiện của quân Pháp.

Đến tối 6/3, các chiến sĩ rời nơi trú quân. Trong đêm tối và gió lạnh, họ bí mật vượt đường 14, qua sông Lạch Tray, những cánh đồng và bãi lầy để tiến về Cát Bi. Quãng đường vòng dài hơn 10 km nhưng mỗi người còn phải mang theo thuốc nổ, thủ pháo, súng, lựu đạn và dao găm.

Những tháng ngày tập chạy, tập bơi và vượt sông lúc này phát huy tác dụng. Vũ khí được gói thành những bọc nổi để đưa qua dòng nước mà không bị ướt. Đội hình lần lượt tiếp cận các lớp hàng rào bảo vệ sân bay mà vẫn giữ được bí mật. Trước mắt họ là sân bay Cát Bi sáng rực ánh đèn.

Khoảng 1 giờ sáng ngày 7/3/1954, hiệu lệnh tiến công được phát ra. Từ vị trí bí mật, các chiến sĩ lao nhanh về khu vực máy bay đang đỗ. Những quả thủ pháo và bộc phá được gắn vào máy bay rồi kích nổ. Nguyễn Thế Phim cũng trực tiếp lao vào khu vực máy bay.

Trong hồi ức được ông công bố sau này, ông cho biết bản thân đã phá được 3 máy bay trong trận tập kích. Chỉ trong khoảng 15 phút, hàng loạt tiếng nổ liên tiếp vang lên. Máy bay và số bom đạn được chuẩn bị sẵn tại sân bay bốc cháy, tạo thành những đám lửa lớn dọc khu vực đường băng. Quân Pháp rơi vào tình trạng hỗn loạn. Ban đầu, đối phương thậm chí chưa xác định được lực lượng tiến công từ đâu tới. Khi nhận ra sân bay bị bộ binh tập kích và tổ chức lực lượng bao vây, những chiến sĩ Cát Bi đã bắt đầu rút khỏi mục tiêu. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, nhưng ngọn lửa tại sân bay còn cháy nhiều giờ sau đó.

Theo các tài liệu lịch sử được phía Việt Nam tổng kết, 59 máy bay của quân Pháp bị phá hủy cùng nhiều vũ khí, phương tiện. Sân bay Cát Bi cháy suốt khoảng 17 giờ. Chiến thắng ấy diễn ra chỉ ít ngày trước khi quân đội ta nổ súng mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 13/3/1954.

Đằng sau chiến công là sự hy sinh của những người đồng đội. Theo hồi ức của Nguyễn Thế Phim, phía bộ đội ta có 3 chiến sĩ hy sinh, 3 người bị thương và 1 người bị quân Pháp bắt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và rút khỏi sân bay.

Một trong những ký ức khiến ông day dứt là câu chuyện về đồng chí Lê Văn Vành. Bị thương trong quá trình rút lui, đồng chí được gửi lại trong dân để che giấu. Tuy nhiên, vết máu đã khiến quân Pháp phát hiện nơi trú ẩn. Đồng chí bị bắt và sau đó hy sinh.

Đối với những người trở về, niềm vui chiến thắng luôn đi cùng ký ức về những đồng đội đã nằm lại. Trong hành trình rút quân, người dân địa phương tiếp tục trở thành chỗ dựa cho bộ đội. Nhân dân bí mật chăm sóc thương binh, chuẩn bị nước uống, xôi chè cho những chiến sĩ vừa từ trận đánh trở về để họ lấy lại sức và tiếp tục vượt sông về căn cứ.

Bởi vậy, chiến thắng Cát Bi không chỉ là chiến công của 32 cán bộ, chiến sĩ trực tiếp đột nhập sân bay. Phía sau họ còn có những cơ sở cách mạng và những người dân bình thường sẵn sàng đưa thuyền qua sông, giấu bộ đội trong nhà, nuôi quân và che chở thương binh ngay giữa vùng địch kiểm soát. Đó chính là “biển lửa” được tạo nên từ sức mạnh của quân và dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn