Dũng tướng trận mạc – câu chuyện về Trung tướng Nguyễn Quốc Thước
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước (bên phải)
Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt của dân tộc, có những con người mà cuộc đời họ gắn liền với từng bước trưởng thành của quân đội và những chiến công của đất nước. Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Quốc Thước là một người như thế. Cuộc đời ông là hành trình dài của một người lính bước ra từ quê hương Nghệ An giàu truyền thống cách mạng, trưởng thành trong lửa đạn và trở thành vị tướng tài của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những năm cuối thập niên 1940, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt, chàng thanh niên Nguyễn Quốc Thước khi ấy là Bí thư Huyện đoàn Nghi Lộc đã sớm thể hiện tinh thần dấn thân vì đất nước. Năm 1949, ông được giới thiệu đi học tại Trường Trung học Lục quân Trần Quốc Tuấn, cái nôi đào tạo nhiều cán bộ quân sự ưu tú của quân đội ta. Với thành tích học tập xuất sắc, ông được giữ lại làm giáo viên. Nhưng trái tim của người lính trẻ không cho phép ông đứng ngoài chiến trường. Tháng 12 năm 1951, ông tình nguyện ra trận, bắt đầu cuộc đời binh nghiệp giữa khói lửa chiến tranh.
Từ chiến trường Bình Trị Thiên khốc liệt, Nguyễn Quốc Thước nhanh chóng trưởng thành qua từng trận đánh. Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953–1954, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị như Đại đội phó, Chính trị viên đại đội, rồi Chính trị viên phó tiểu đoàn của Trung đoàn 101 thuộc Đại đoàn 325. Cùng đồng đội, ông tham gia nhiều trận đánh lớn, tiêu diệt các đơn vị lính Âu Phi của thực dân Pháp, giải phóng thị xã Thà Khẹt của nước bạn Lào và đánh bại nhiều đợt phản kích của quân Lê Dương. Những chiến công ấy đã góp phần mở rộng vùng giải phóng và khẳng định bản lĩnh của người chỉ huy trẻ tuổi.
Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến trường càng trở nên ác liệt hơn. Tháng 12 năm 1965, trong đội hình Sư đoàn 325, Nguyễn Quốc Thước cùng đơn vị hành quân vào chiến trường Tây Nguyên. Dưới sự chỉ huy của ông và các chỉ huy khác, đơn vị đã tham gia nhiều trận đánh lớn, tiêu diệt các lực lượng biệt kích Mỹ – ngụy tại khu vực A Sầu, góp phần mở thông tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh. Những chiến công ấy không chỉ làm suy yếu lực lượng địch mà còn tạo điều kiện quan trọng cho các chiến dịch lớn sau này.
Đỉnh cao của sự nghiệp quân sự của ông gắn liền với chiến trường Tây Nguyên. Năm 1974, khi giữ cương vị Tham mưu trưởng chiến dịch Tây Nguyên, ông được giao nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị cho chiến dịch quyết định của năm 1975. Sau khi nhận nhiệm vụ từ Bộ Tổng Tư lệnh, ông cùng cơ quan tham mưu xây dựng kế hoạch, tổ chức thế trận và chỉ huy điều hành chiến dịch. Chỉ trong 16 ngày đêm chiến đấu, quân ta đã giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, mở ra bước ngoặt lớn cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày đất nước hòa bình, vị tướng trận mạc ấy vẫn tiếp tục cống hiến cho Tổ quốc. Trong các cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, ông giữ cương vị Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Quân đoàn 3, trực tiếp chỉ huy nhiều trận chiến đánh bại quân địch, góp phần giải phóng nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng. Đầu những năm 1980, ông lại cùng đơn vị tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
Điều khiến đồng đội kính trọng Nguyễn Quốc Thước không chỉ là tài thao lược nơi chiến trường mà còn là nhân cách và tấm lòng của một người lính Cụ Hồ. Dù ở cương vị nào, ông cũng luôn sống giản dị, nghĩa tình với đồng chí, đồng đội và nhân dân. Sau này, khi tham gia hoạt động chính trị và xã hội, ông vẫn giữ phong thái thẳng thắn, bản lĩnh, luôn đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhân dân và đất nước.
Cuộc đời của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước giống như một bản trường ca của người lính. Từ chàng thanh niên xứ Nghệ bước ra chiến trường, đến vị tướng chỉ huy những chiến dịch lớn, rồi người cán bộ tận tụy trong thời bình, ông đã dành trọn cuộc đời mình cho Tổ quốc.
Giữa những trang sử hào hùng của dân tộc, tên tuổi ông vẫn tỏa sáng như hình ảnh của một dũng tướng trận mạc, trí dũng song toàn và tài đức vẹn toàn, người đã góp phần viết nên những chương sử rực rỡ của Quân đội nhân dân Việt Nam.



