Bài viết

Dưới Bóng Thời Gian

30/09/2026Phường Vinh Phú (Đoàn phường Vinh Phú)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nắng quái chiều hôm nhuộm một màu vàng óng sệt như mật ong lên những mái ngói rêu phong của ngôi làng cổ ven sông. Trên chiếc chõng tre đặt dưới gốc cây hoa ngọc lan cổ thụ, bà Huỳnh Thị Cúc và bà Nguyễn Thị Dung đang ngồi bỏm bẻm nhai trầu. Mùi hương ngọc lan thoang thoảng trong gió, quyện với mùi trầu cay nồng tạo nên một bầu không khí trầm mặc, tịch mịch như tách biệt hoàn toàn khỏi sự ồn ã của phố thị ngoài kia. Bà Cúc năm nay đã bước sang tuổi tám mươi, mái tóc bạc trắng như cước được búi gọn gàng sau gáy, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn của một đời sương gió nhưng đôi mắt vẫn giữ được nét tinh anh, hiền từ. Ngồi cạnh bà là bà Dung, người bạn nối váy từ thuở còn để chỏm, dáng người nhỏ nhắn, lưng đã hơi còng nhưng nụ cười lúc nào cũng thường trực trên môi, để lộ hàm răng đen bóng màu hạt na đặc trưng của thế hệ trước.

Hai con người, hai cái tên, nhưng cuộc đời họ đã bện chặt vào nhau như hai sợi dây thừng dẻo dai đi qua biết bao thăng trầm của lịch sử và số phận. Sinh ra trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, ký ức tuổi thơ của Cúc và Dung không phải là những món đồ chơi sặc sỡ hay những bộ quần áo lụa là, mà là tiếng còi báo động hủ hủ vang lên mỗi đêm, là những buổi chiều dắt tay nhau chạy vội xuống hầm tăng xơ để tránh bom rơi đạn lạc. Nhà Cúc ở đầu xóm, nhà Dung ở cuối bãi, ngăn cách bởi một con mương nhỏ nước trong vắt. Ngày ấy, mỗi buổi sáng trước khi ra đồng giúp bố mẹ, Dung lại đứng bên này bờ mương, khum tay gọi to: “Cúc ơi, đi mót lúa thôi!”. Và rồi từ căn nhà mái rạ xêu vẹo, Cúc sẽ thò đầu ra, nở một nụ cười rạng rỡ, tay cầm chiếc thúng tre nhỏ chạy băng qua cây cầu khỉ lắt lẻo để hội ngộ cùng bạn. Họ đã cùng nhau lớn lên trên những bãi bồi sương gió, chia nhau củ khoai lang nướng sượng sùng trong đêm đông buốt giá, và cùng giặt áo bên bến sông đầy hoa lục bình tím ngắt. Tình bạn của họ cứ thế lớn dần lên, giản dị và vững chãi như cây đa, bến nước đầu làng.

Khi bước vào tuổi mười tám, cái tuổi đẹp nhất của người con gái, cả Cúc và Dung đều trở thành những thiếu nữ xinh đẹp, mang vẻ đẹp mộc mạc, thắm đượm hồn quê. Cúc có làn da bánh mật khỏe khoắn và giọng hát chèo ngọt lịm, còn Dung lại sở hữu đôi mắt đen láy lúc nào cũng như biết nói và đôi bàn tay khéo léo, may vá thêu thùa chẳng ai bằng. Thế nhưng, thời cuộc biến động đã đẩy họ vào những ngã rẽ khác nhau của cuộc đời. Năm ấy, tiếng súng viễn chinh vang lên dồn dập, thanh niên trong làng nô nức tòng quân ra trận. Dung bén duyên với một anh bộ đội công binh quê tận miền Trung, người đã cảm mến đôi mắt trong veo của cô ngay từ cái nhìn đầu tiên trong một lần đơn vị đóng quân qua làng. Đám cưới của Dung diễn ra vô cùng đơn giản trong một buổi chiều mưa tầm tã, chú rể mặc bộ quân phục sờn vai, cô dâu cài một bông hoa dại lên tóc. Cúc chính là người đã tự tay chải tóc, tết gọn gàng cho bạn và khóc hết nước mắt khi tiễn Dung theo chồng về vùng đất mới, xa xôi và đầy gian khó.

Nửa năm sau ngày Dung đi, Cúc cũng nghe theo lời cha mẹ gả cho một người đàn ông hiền lành, chất phác cùng làng. Khác với Dung phải bôn ba nơi đất khách quê người, cuộc đời Cúc gắn liền với mảnh đất chôn nhau cắt rốn, với ruộng lúa, vườn rau và những lo toan vụn vặt của cuộc sống gia đình. Những tưởng khoảng cách địa lý và những bận rộn của thiên chức làm vợ, làm mẹ sẽ khiến tình bạn của họ phai nhạt theo thời gian, nhưng không, sợi dây liên kết giữa Huỳnh Thị Cúc và Nguyễn Thị Dung chưa bao giờ đứt đoạn. Trong suốt mấy mươi năm chia cách, phương tiện liên lạc duy nhất giữa họ là những lá thư tay viết vội trên mảnh giấy học trò ố vàng. Cứ mỗi tháng một lần, Cúc lại mong ngóng tiếng chuông xe đạp của bác đưa thư vang lên trước cổng. Những lá thư của Dung kể về cuộc sống khó khăn ở vùng đất mới, về những đêm nhớ nhà da diết khi chồng đi làm nhiệm vụ xa, và cả những niềm vui nhỏ nhoi khi đứa con đầu lòng chào đời. Đáp lại, Cúc gửi đi những dòng chữ mộc mạc kể về vụ chiêm vụ mùa, về cây khế ngọt sau nhà năm nay sai trĩu quả, và không quên gói bọc cẩn thận một ít hạt giống rau muống, rau cải gửi cho bạn trồng nơi xứ người. Những trang thư thấm đượm nước mắt và nụ cười ấy chính là nguồn động lực to lớn giúp hai người phụ nữ vượt qua những giai đoạn ngặt nghèo nhất của thời bao cấp.

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, ngoảnh đi ngoảnh lại, con cái của cả hai đều đã trưởng thành và lập nghiệp phương xa. Khi mái đầu đã hai thứ tóc, chồng của bà Dung qua đời sau một bạo bệnh, bà quyết định bán căn nhà ở miền Trung để trở về quê cũ, nơi có nấm mồ của tổ tiên và đặc biệt là nơi có người bạn già Huỳnh Thị Cúc vẫn ngày đêm ngóng đợi. Ngày gặp lại nhau sau gần bốn mươi năm xa cách, hai người đàn bà tóc đã bạc phơ không nói được lời nào, họ chỉ ôm chặt lấy nhau mà khóc, những giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên những gò má nhăn nheo, đồi mồi. Họ nhận ra rằng, dù thời gian có tàn nhẫn cướp đi tuổi trẻ và nhan sắc, thì tình cảm họ dành cho nhau vẫn vẹn nguyên như ngày còn dắt tay nhau đi mót lúa trên đồng. Bà Dung dựng một gian nhà nhỏ ngay sát cạnh nhà bà Cúc, và từ đó, ngôi làng cổ lại được chứng kiến hình ảnh hai bà lão như hình với bóng, sớm tối có nhau.

Giờ đây, khi đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy, cuộc sống của bà Cúc và bà Dung trôi qua một cách bình lặng và an yên dưới mái nhà xưa. Mỗi ngày của họ bắt đầu từ lúc tờ mờ sáng, khi tiếng gà gáy canh tư vừa dứt, hai bà đã thức dậy, cùng nhau quét dọn khoảng sân gạch đầy lá rụng, rồi pha một ấm chè xanh nóng hổi. Họ ngồi bên hiên nhà, vừa nhấp từng ngụm trà chát ngọt, vừa ôn lại những chuyện ngày xửa ngày xưa, những câu chuyện mà có lẽ họ đã kể đi kể lại hàng trăm lần nhưng chưa bao giờ cảm thấy chán. Bà Cúc thường hay trêu bà Dung về cái ngày bà Dung vì mải nhìn anh bộ đội mà bước hụt chân ngã xuống mương, còn bà Dung lại cười móm mém nhắc lại chuyện bà Cúc ngày xưa nhút nhát, đi xem bói mà không dám vào phải bắt bạn vào xem hộ. Những tiếng cười khúc khích, giòn giã của hai bà lão vang lên giữa không gian tĩnh mịch, làm bừng sáng cả một góc sân rêu phong.

Không chỉ chia sẻ với nhau những niềm vui, hai bà còn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho nhau mỗi khi trái gió trở trời. Tuổi già không tránh khỏi những lúc đau ốm, bệnh tật. Có những đêm bà Cúc lên cơn ho hen suyễn kéo dài, bà Dung lại lục đục cầm đèn pin sang, tự tay sắc thuốc, vỗ lưng và thức suốt đêm canh chừng cho bạn. Hay những khi cái khớp gối của bà Dung đau nhức đến mức không thể đi lại được, bà Cúc lại là người đi chợ, nấu cơm, mang sang tận giường cho bạn từng bát cháo nóng. Con cháu của hai bà từ thành phố thỉnh thoảng có về thăm, thấy hai cụ chăm sóc nhau chu đáo như vậy thì vừa cảm động vừa yên tâm. Chúng bảo nhau rằng, trên đời này tìm được một tri kỷ đã khó, giữ được tình tri kỷ ấy suốt một đời như bà Cúc và bà Dung lại càng là điều kỳ diệu hiếm có.

Chiều nay, gió mùa đông bắc tràn về, mang theo cái lạnh se se thấu xương. Bà Cúc khẽ kéo lại chiếc khăn len ấm áp trên cổ cho bà Dung, rồi hai người lại tiếp tục nhìn ra phía con sông trước mặt. Con sông ấy vẫn miệt mài chảy, mang theo phù sa bồi đắp cho những bờ bãi, giống như tình bạn của Huỳnh Thị Cúc và Nguyễn Thị Dung, vẫn luôn âm thầm, bền bỉ và thủy chung theo năm tháng. Cuộc đời có thể đổi thay, lòng người có thể đảo điên, nhưng dưới bóng thời gian, tình bạn của họ đã hóa thành một biểu tượng vĩnh cửu của sự gắn kết, một nốt nhạc trầm ấm, đẹp đẽ giữa khúc ca thăng trầm của nhân gian. Họ biết rằng, dù ngày mai có ra sao, chỉ cần còn được ngồi cạnh nhau, cùng ăn một miếng trầu, cùng ngắm một nhành hoa ngọc lan rơi, thì cuộc đời này đã hoàn toàn viên mãn và không còn gì phải hối tiếc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Dưới Bóng Thời Gian | Câu chuyện thời hoa lửa