Dưới Bóng Tre Làng - 1C3VCVB
Dưới Bóng Tre Làng - 1C3VCVB
Nắng chiều thu nhuộm vàng những vạt rau lang sau gian nhà nhỏ của Mẹ Tám. Mẹ ngồi trên chiếc chõng tre cũ, bàn tay gầy gộc, chằng chịt những nếp chân chim run run vuốt ve hai tấm Bằng Tổ quốc Ghi công đã sờn màu thời gian. Bức ảnh hai người con trai của Mẹ – anh Cả Tấn và anh Út Lộc – vẫn nở nụ cười tươi rói của tuổi hai mươi, vĩnh viễn dừng lại ở cái thời mười tám, đôi mươi ấy.
Mẹ Tám là Mẹ Việt Nam Anh hùng của cái làng nhỏ ven dòng sông Thạch Hãn. Cả cuộc đời Mẹ gắn liền với những chuyến đò đêm chở quân, những hũ gạo nuôi quân giấu dưới hầm bí mật và nỗi đau âm thầm ngấm vào thịt da.Năm 1968, anh Cả Tấn lên đường nhập ngũ. Ngày đi, anh ngoái lại dặn: "Mẹ ở nhà giữ sức khỏe, hết giặc con về cày ruộng giúp Mẹ". Mẹ gật đầu, cố mỉm cười để con yên tâm ra trận, nhưng nước mắt cứ chảy ngược vào trong. Rồi hai năm sau, lá thư báo tử đầu tiên gửi về trong một ngày mưa rừng xám xịt. Anh Cả hy sinh ở chiến trường Đường 9 - Nam khi vừa tròn hai mươi tuổi. Đêm đó, Mẹ không khóc thành tiếng. Mẹ ngồi gục bên bếp lửa, bàn tay bấm chặt vào vạt áo đến ứa máu. Nhà chỉ còn Mẹ và anh Út Lộc. Nỗi đau chưa nguôi thì năm 1972, trận chiến Quảng Trị bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Anh Út xin Mẹ đi tiếp bước đường của anh trai. Mẹ nhìn đứa con duy nhất còn lại, lòng đau như cắt, nhưng rồi chính Mẹ lại tự tay gói cho anh nải chuối khô, chiếc xắc cốt nhỏ và bảo: "Đi đi con, giữ lấy cái làng này, giữ lấy quê hương". Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, cờ hoa rợp trời từ Bắc chí Nam. Những người con của làng lần lượt trở về trong tiếng reo hò, vỡ òa hạnh phúc. Mẹ Tám đứng ở đầu làng, từ sáng đến đêm, ánh mắt mòn mỏi nhìn theo từng đoàn quân đi qua. Nhưng anh Út không về. Anh đã nằm lại dưới làn nước xanh ngắt của dòng sông Thạch Hãn trong một đêm vượt sông nảy lửa. Dân làng bảo, sau ngày ấy, Mẹ ít nói hẳn. Mẹ không khóc nữa, vì nước mắt của Mẹ có lẽ đã cạn khô qua những đêm dài đăm đắm nhìn ra con đường làng vắng ngắt. Mẹ sống giản dị, lặng lẽ như cây tre, cây chuối sau nhà. Ai trong làng có việc gì gian khó, Mẹ cũng gom góp chút gạo, chút rau đến giúp. Với lũ trẻ trong làng, Mẹ như người bà chung, luôn có vài mẩu sắn lùi, củ khoai nướng ngọt lịm trong bếp. Năm tháng qua đi, đất nước đổi mới, xóm làng trở nên đàng hoàng, to đẹp hơn. Rất nhiều đoàn cán bộ, đoàn thanh niên đến thăm Mẹ, trao cho Mẹ danh hiệu cao quý "Mẹ Việt Nam Anh hùng". Mỗi lần như thế, Mẹ chỉ nắm lấy tay các bạn trẻ, mỉm cười hiền hậu: "Mẹ không cần chi nhiều đâu các con. Thấy các con sống hòa bình, vui vẻ, đất nước mình yên bình thế này là hai anh của các con ở dưới kia mát mẻ lắm rồi..."
Mỗi độ thu về, khi tiếng ve chiều đã dứt, Mẹ Tám lại ra thắp nén hương lên bàn thờ, rồi thong dong ra ngồi dưới bóng tre đầu làng. Mẹ không còn nhìn về phía con đường với nỗi đợi chờ khắc mòn nữa, mà mắt Mẹ lấp lánh sự an yên. Mẹ biết, sự hy sinh của các con Mẹ, của hàng ngàn hàng vạn người con đất Việt khác, đã hóa thành màu xanh của ngô khoai, thành tiếng cười


