Cựu chiến binh

Dưới làn mưa bom bão đạn: Ký ức về người chiến sĩ Đỗ Đức Dục quê hương Hà Nội

Giữa những năm tháng khói lửa của cuộc kháng chiến, Anh hùng Đỗ Đức Dục (Hà Nội) đã cùng đồng đội viết nên những trang sử oanh liệt bên chiến hào, tạc vào non sông tượng đài kiên trung bất khuất.

Hà Nội28/10/2026Đoàn phường Tân Khánh (Phường Tân Khánh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa những năm tháng khói lửa của cuộc kháng chiến, Anh hùng Đỗ Đức Dục (Hà Nội) đã cùng đồng đội viết nên những trang sử oanh liệt bên chiến hào, tạc vào non sông tượng đài kiên trung bất khuất.

Ký ức những ngày rực lửa

Ghi nhận những cống hiến to lớn cho Tổ quốc, tên tuổi Anh hùng Đỗ Đức Dục mãi mãi trường tồn cùng non sông gấm vóc, là niềm tự hào vô bờ bến của quê hương Hà Nội và nhân dân cả nước.

Đỗ Đức Dục (15 tháng 8 năm 1915 – 24 tháng 9 năm 1993) (còn có bút danh Trọng Đức, Như Hà, Tảo Hoài) là nhà trí thức cách mạng, nhà báo, nhà lý luận, dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và văn học Pháp, nguyên Phó Tổng Thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, nghiên cứu viên Viện Văn học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.

Ông sinh ngày 15 tháng 8 năm 1915 tại thôn Xuân Tảo, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm (nay là phố Xuân Tảo, phường Xuân Đỉnh), thành phố Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình Nho học dòng dõi, dòng họ ông những đời trước trước đều có nhiều người khoa bảng, có cụ được tước Hồng Lô ở triều đình Huế. Ông mồ côi cha từ thuở nhỏ, được ông chú là ông Đỗ Uông (y sĩ Đông Dương, sau đó có thời kỳ làm Giám đốc nhà thương Cống Vọng, nay là Bệnh viện Bạch Mai) nuôi cho ăn học thành tài, thuở nhỏ học trường Albert Sarraut, trường Bưởi, theo học luật khoa trường Viện Đại học Đông Dương khóa 1935-1938 và đậu cử nhân loại ưu năm 1938.

Trước Cách mạng Tháng Tám Đỗ Đức Dục tham gia phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, viết báo, dạy học tư ở Hà Nội và Vinh, là chủ bút tạp chí Thanh Nghị, chủ bút báo Độc lập cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ Việt Nam từ những ngày đầu báo mới ra đời năm 1944.

Sau 1945 ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Phó Tổng Thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam (1945–1958), Đại biểu Quốc dân Đại hội Tân Trào, Đổng lý Văn phòng Bộ Quốc gia Giáo dục (1945), Đại biểu Quốc hội khóa I, Ủy viên Tiểu ban dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Thứ trưởng Bộ Giáo dục (1946).

""Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, tinh thần của người chiến sĩ thời hoa lửa mãi mãi rực sáng.""

Ý chí kiên cường nơi chiến tuyến

Trong kháng chiến chống Pháp ông lên Việt Bắc, làm Phó bí thư Tổng bộ Việt Minh (1947–1950), Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Liên Việt (1950–1955), Chủ nhiệm báo Độc lập (1950–1957), Giám đốc Trường viết báo Huỳnh Thúc Kháng (1949).

Sau hòa bình lập lại năm 1954 ông lần lượt đảm nhiệm: Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Ủy viên Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Xô (1955–1960), Phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam (1946–1960).

Sau năm 1960, do những quan điểm chính trị khác biệt ông không còn tham gia nhiều vào hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ năm 1960 đến năm 1975 ông trở thành chuyên viên nghiên cứu văn học Pháp của Phòng văn học nước ngoài, Viện Văn học.

Ông qua đời ngày 24 tháng 9 năm 1993. Mãi đến thời kỳ Đổi mới, uy tín ông được phần nào phục hồi, và ông được truy tặng Huân chương Độc lập năm 2001.

Khúc ca vang mãi cùng non sông

Cuộc đời và sự nghiệp của Đỗ Đức Dục, "khởi đầu bằng văn học và kết thúc cũng bằng văn học, âu cũng là định mệnh" như lời ông đã nói. Khi còn làm báo trước đây, ngoài viết báo dưới các bút danh khác nhau (mà hiện nay thống kê có tới hàng ngàn bài), Đỗ Đức Dục cũng viết và dịch một số tác phẩm văn học in trên tạp chí Thanh Nghị, báo Độc lập; sáng tác một số truyện ngắn và thơ. Trong quãng đời hoạt động cách mạng với tư cách một chiến sĩ hết mình đấu tranh cho sự nghiệp dân chủ của nhân dân, ông đã để lại những tác phẩm có tiếng vang lớn, đáng chú ý là những bài viết:

Với tư cách là nghiên cứu viên, dịch giả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, chưa kể những công trình in trên các tạp chí chuyên ngành, ông đã xuất bản những tác phẩm chính sau:

Ghi nhận những chiến công đặc biệt xuất sắc và sự cống hiến quên mình vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Đỗ Đức Dục. Tấm gương sáng ngời của người anh hùng mãi mãi là niềm tự hào của quê hương Hà Nội và dân tộc Việt Nam, là bài học lịch sử vô giá soi đường cho các thế hệ trẻ hôm nay noi gương học tập và noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn