Cựu chiến binh

Dưới làn mưa đạn Mậu Thân 1968: Ký ức không thể phai của cựu chiến binh Nguyễn Văn Cáp

Ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Văn Cáp – chàng trai 18 tuổi từ thôn Câu Đông lên đường nhập ngũ – gói trọn tinh thần kiên cường của thế hệ tham gia Tổng tiến công Mậu Thân 1968 tại Huế. Suốt 26 ngày đêm chiến đấu trong bom đạn, thiếu thốn và thương vong lớn, ông cùng đồng đội vẫn bám trụ kiên cường, góp phần tạo nên dấu mốc quan trọng làm thay đổi cục diện chiến trường. Hôm nay, nghe ông kể lại với ánh mắt đầy tự hào, chúng tôi càng trân trọng hơn những hy sinh của cha anh và nhắc mình sống xứ

Hải Phòng10/12/2025Chi đoàn Trường Tiểu học Quang Trung (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã An Quang, thành phố Hải Phòng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong kho tàng ký ức của những người lính trở về sau chiến tranh, có những câu chuyện không chỉ là hồi ức cá nhân mà còn là chứng nhân sống động của một thời đại “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Với cựu chiến binh Nguyễn Văn Cáp, sinh năm 1949 tại thôn Câu Đông, xã An Quang (Hải Phòng), những ngày đêm tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 tại Huế chính là quãng đời không thể nào quên – một thời máu lửa hun đúc nên ý chí, lòng kiên trung và tinh thần bất khuất của cả một thế hệ.

Chàng trai 18 tuổi năm ấy lên đường nhập ngũ ngày 10-7-1967, khi bạn bè đồng trang lứa cùng nhau gác bút lại và cầm súng lên bảo vệ Tổ Quốc. Bước vào chiến trường miền Trung đầy khốc liệt, Nguyễn Văn Cáp mang trong mình sức trẻ, niềm tin và khát vọng được cống hiến cho Tổ quốc. Chiến tranh không chỉ thử thách bằng bom đạn mà còn bằng những trận chiến tâm lý, đói rét và sự khốc liệt kéo dài triền miên.

Trong ký ức của ông, thời khắc rạng sáng 31-1-1968 vẫn rõ nét như vừa mới hôm qua. Từ khu vực giáp ranh phía tây Thừa Thiên – Huế, những loạt tên lửa ĐKB đầu tiên xé tan màn đêm, thắp sáng cả bầu trời. Các căn cứ trọng yếu của Mỹ - ngụy rung chuyển trước sức mạnh tổng lực của quân giải phóng. Tiếng B40, B41, thủ pháo và AK đồng loạt vang lên từ nhiều hướng, trải dài từ Thành Nội phía Bắc đến Mặt trận 5 phía Nam, tạo nên một thế tấn công mãnh liệt khiến địch hoàn toàn bất ngờ. Ngay trong những giờ đầu tiên, nhiều vị trí quan trọng được quân ta làm chủ.

Nhưng phía sau những chiến công ấy là cuộc giằng co vô cùng khốc liệt kéo dài suốt 26 ngày đêm. Sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá, được tăng viện từ Khe Sanh, Phú Bài và tàu chiến ngoài khơi, liên tục tổ chức phản kích với hỏa lực mạnh. Máy bay Mỹ ném bom suốt ngày đêm, pháo hạm bắn thẳng vào thành phố; từng mái nhà, từng góc phố Huế chìm trong biển lửa. Bộ đội ta chiến đấu trong điều kiện vô cùng gian khổ – không được nghỉ ngơi, lương thực cạn dần, đạn B40, B41 thiếu hụt nghiêm trọng, thương vong tăng qua từng đợt phản công.

Ông Cáp nhớ lại: “Chiến đấu dài ngày, ăn uống thất thường, sức khỏe giảm sút nhưng tinh thần của anh em thì chưa bao giờ nao núng. Chúng tôi chỉ có một suy nghĩ: phải giữ bằng được vị trí, dù có hy sinh đến người cuối cùng”. Giữa lằn ranh sinh tử, bộ đội ta kiên cường bám trụ từng điểm chốt, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch trong điều kiện chênh lệch lực lượng quá lớn.

Đến ngày thứ 26, khi lực lượng đã suy giảm, vũ khí đạn dược cạn kiệt, quân ta nhận lệnh rút khỏi thành phố để bảo toàn lực lượng và chuẩn bị cho các trận đánh tiếp theo. Nguyễn Văn Cáp và đồng đội rút về vùng núi A Lưới, tiếp tục gây dựng sức mạnh chiến đấu. Dù phải rời Huế, nhưng những gì quân giải phóng làm được trong Mậu Thân 1968 đã để lại dấu mốc quan trọng: tiêu diệt nhiều lực lượng chủ lực Mỹ – ngụy, đánh chiếm hàng loạt mục tiêu quan trọng, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại và tạo ra một cú hích làm thay đổi cục diện chiến trường, mở đường cho thắng lợi mùa xuân 1975.

Nghe lại câu chuyện từ người cựu chiến binh tóc bạc nhưng đôi mắt vẫn ánh lên niềm tự hào, chúng tôi – những đoàn viên thanh niên hôm nay – không khỏi xúc động. Mỗi trang ký ức của ông là một mảnh ghép của lịch sử sống, là minh chứng cho những hy sinh lớn lao của cha anh để Tổ quốc có hòa bình như hôm nay.

Những người lính như ông Nguyễn Văn Cáp đã dành trọn tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của dân tộc. Đó là những giá trị không bao giờ được phép lãng quên. Và với thế hệ trẻ An Quang, ký ức của ông cũng là lời nhắc nhở sâu sắc: hãy sống xứng đáng với sự hy sinh của lớp người đi trước, giữ gìn và phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của quê hương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn