Dưới tán rừng Dầu Tiếng
Năm 1972, Nguyễn Văn Hà rời thôn Hạ Vũ 1, khi mới mười bảy tuổi, khoác ba lô theo đơn vị L543 hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Là chiến sĩ trinh sát bộ binh, bác Hà trải qua những tháng ngày luồn rừng, bám địch, sống giữa bom pháo và cái chết cận kề. Một trận phục kích bên bìa rừng Dầu Tiếng đã trở thành ký ức không bao giờ phai trong cuộc đời người lính trẻ. Nơi đó, bác lần đầu chứng kiến sự mất mát, và cũng là lần đầu hiểu thế nào là trách n
Nguyễn Văn Hà nhập ngũ năm 1972, khi chiến tranh đã bước vào những năm tháng ác liệt nhất. Ngày lên đường, bác chưa tròn mười bảy tuổi, dáng người gầy, nước da sạm nắng, trong ba lô chỉ có vài bộ quần áo, cuốn sổ tay nhỏ và lá thư mẹ dúi vội lúc tiễn con ra đầu làng. Đơn vị bác là Tiểu đoàn bộ binh L543, làm nhiệm vụ trinh sát, bảo vệ hành lang vận chuyển và đánh địch lẻ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, trọng điểm là khu vực rừng Dầu Tiếng – Bến Cát – Phước Long.
Trong quân ngũ, bác Hà là chiến sĩ trinh sát, cấp bậc H2 – một người lính trực tiếp đi trước đội hình, dò đường, nắm tình hình địch. Công việc ấy chứng kiến nhiều hơn bất cứ ai những hiểm nguy thầm lặng của chiến tranh. Đêm đi, ngày ẩn, sống trong rừng sâu, bác và đồng đội quen với tiếng bom nổ như quen với tiếng côn trùng. Mỗi bước chân đều phải thận trọng, vì dưới lớp lá mục có thể là mìn, phía trước bụi rậm có thể là ổ phục kích.
Bác Hà từng kể, giọng trầm lại mỗi khi nhắc đến một trận đánh cuối năm 1973:
“Lần đó, tổ trinh sát tụi tôi có ba người. Nhiệm vụ là luồn sâu vào bìa rừng Dầu Tiếng để xác định vị trí địch đóng chốt. Trời gần sáng thì phát hiện tụi nó đi càn. Không rút kịp, tụi tôi buộc phải ém lại, chờ thời cơ.”
Người viết hình dung ra buổi sáng ấy: sương còn đọng trên tán lá, rừng im phăng phắc, ba người lính nằm sát đất, tim đập gấp trong lồng ngực. Khi toán địch tiến đến gần, một tiếng động nhỏ cũng đủ đổi bằng mạng sống. Rồi tiếng súng nổ. Cuộc phục kích diễn ra chớp nhoáng nhưng khốc liệt. Một đồng đội của bác Hà bị thương nặng.
“Lúc đó tôi chỉ nghĩ một điều: phải kéo được anh em ra khỏi vòng vây. Sợ thì có sợ, nhưng không cho phép mình dừng lại. Dừng là chết.”
Bác Hà cùng đồng đội cõng người bị thương, vừa đánh trả vừa rút sâu vào rừng. Đạn xé gió trên đầu, mồ hôi hòa với máu, nhưng cuối cùng cả tổ trinh sát cũng thoát được. Người đồng đội ấy được cứu sống. Sau trận đó, bác Hà được đơn vị biểu dương tinh thần dũng cảm, bình tĩnh trong chiến đấu.
Chiến tranh kéo dài, bác Hà gắn bó với đơn vị L543 suốt những năm tháng sau giải phóng. Từ người lính trẻ của kháng chiến chống Mỹ, bác tiếp tục ở lại quân đội, tham gia nhiệm vụ bảo vệ vùng giải phóng, rà phá bom mìn, giữ gìn an ninh khu vực biên giới phía Nam. Năm 1978–1979, đơn vị bác còn làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, đối mặt với những thử thách mới, không kém phần gian khổ.
Suốt mười năm quân ngũ, từ 1972 đến 1982, bác Hà được kết nạp Đảng ngay tại đơn vị – một dấu mốc thiêng liêng trong đời người lính. Với quá trình công tác bền bỉ, bác được tặng Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Ba và nhiều giấy khen của đơn vị L543 vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Ngày xuất ngũ năm 1982, bác Hà rời doanh trại trong một buổi chiều yên tĩnh. Không còn tiếng súng, chỉ còn tiếng gió thổi qua hàng cây.
“Lúc tháo quân hàm, tôi đứng rất lâu. Mừng vì được về nhà, mà trong lòng thì trống trải lắm. Cả tuổi trẻ mình nằm lại với rừng, với đồng đội rồi.”
Nhiều năm đã trôi qua, nhưng ký ức “thời hoa lửa” ấy vẫn nguyên vẹn trong bác Nguyễn Văn Hà – một người lính trinh sát bình dị, đã đi qua chiến tranh bằng sự gan dạ, trung thành và lặng lẽ hi sinh. Đó là những năm tháng không thể quên, nơi một cậu bé mười bảy tuổi đã trưởng thành giữa bom đạn để trở thành người lính của Tổ quốc.



